Free Web Hosting Provider - Web Hosting - E-commerce - High Speed Internet - Free Web Page
Search the Web

SỔ TAY CHỨNG KHOÁN  ( Phần 3 )

 

Quản trị rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Rủi ro trong đầu tư CK được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận mong đợi, do vậy để đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao trong đầu tư chứng khoán, vấn đề đặt ra là phải quản lư được mức rủi ro này.

 

Rủi ro là kết quả không mong đợi v́ nó luôn đi cùng với những khoản đầu tư chứng khoán (CK). Rủi ro trong đầu tư CK được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận mong đợi, do vậy để đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao trong đầu tư chứng khoán, vấn đề đặt ra là phải quản lư được mức rủi ro này.

 

1. Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán

 

Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các CK. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lăi suất, tốc độ lạm phát thay đổi... là những minh chứng cho rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến sự dao động giá cả của các CK trên thị trường.

 

Trong rủi ro hệ thống trước hết phải kể đến rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với các hiện tượng trên thị trường. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hăi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn. Phản ứng dây truyền này làm tăng số lượng bán, giá cả CK sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở.

 

Tiếp đến là rủi ro lăi suất. Giá cả CK thay đổi do lăi suất thị trường dao động thất thường gọi là rủi ro lăi suất. Giữa lăi suất thị trường và giá cả CK có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi lăi suất thị trường tăng, người đầu tư có xu hướng bán CK để lấy tiền gửi vào ngân hàng dẫn đến giá CK giảm và ngược lại.

 

Ngoài hệ quả trực tiếp đối với giá CK, lăi suất c̣n ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu (CP) thường. Khi lăi suất tăng làm giá CP giảm v́ các nhà đầu cơ vay mua kư quỹ sẽ bị ảnh hưởng. Nhiều công ty kinh doanh CK hoạt động chủ yếu bằng vốn đi vay th́ với mức lăi suất tăng cũng làm cho chi phí vốn tăng.

 

Một yếu tố rủi ro hệ thống khác không kém phần quan trọng là rủi ro sức mua. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát tới các khoản đầu tư. Lợi tức thực tế của CK đem lại là kết quả giữa lợi tức danh nghĩa sau khi khấu trừ đi lạm phát. Như vậy, khi có t́nh trạng lạm phát th́ lợi tức thực thế giảm. Giải thích theo lư thuyết hiện tại hoá, một đồng lợi tức của hôm nay th́ trong tương lai không c̣n giá trị một đồng do tác động của lạm phát.

 

Rủi ro không hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nghĩa là rủi ro này chỉ liên quan đến một loại CK cụ thể nào đó. Rủi ro không hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Trong quá tŕnh kinh doanh, định mức thực tế không đạt được như theo kế hoạch gọi là rủi ro kinh doanh, chẳng hạn lợi nhuận trong năm tài chính thấp hơn mức dự kiến.

 

Rủi ro kinh doanh được cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại trong công ty. Rủi ro nội tại phát sinh trong quá tŕnh công ty hoạt động. Rủi ro bên ngoài bao gồm những tác động nằm ngoài sự kiểm soát của công ty làm ảnh hưởng đến t́nh trạng hoại động của công ty như chi phí tiền vay, thuế, chu kỳ kinh doanh...

 

Rủi ro tài chính cũng là một loại rủi ro không hệ thống. Rủi ro tài chính liên quan đến đ̣n bẩy tài chính, hay nói cách khác liên quan đến cơ cấu nợ của công ty. Sự xuất hiện các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra nghĩa vụ trả nợ trả lăi của công ty. Công ty phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gồm trả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến giá cả CP công ty. Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công ty không vay nợ chút nào.

 

2. Xác định mức bù rủi ro

 

Một trong những phương pháp định lượng rủi ro và xác định doanh lợi yêu cầu là sử dụng mức lăi suất không rủi ro cộng với mức bù của từng loại rủi ro một. Đầu tiên, chúng ta xác định mức lăi suất không rủi ro (thông thường lăi suất tín phiếu Kho bạc được coi là lăi suất không rủi ro), sau đó xác định mức bù rủi ro cho mỗi thị trường. Tổng số rủi ro liên quan đến CK bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Trong đó, rủi ro không hệ thống có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hoá đầu tư, c̣n rủi ro hệ thống th́ không thể loại trừ bằng cách đa dạng hoá.

 

3. Quản lư rủi ro

 

Việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy tŕnh quản lư rủi ro. Thông thường, quản lư rủi ro được chia thành 5 bước:

 

Bước 1: Nhận dạng rủi ro: Đây là bước đầu tiên nhằm t́m hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi ro. Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro.

 

Cách làm rơ bản chất của rủi ro là:

- Thứ nhất: Nhận dạng những tác nhân kinh tế có thể gây ra rủi ro, ví dụ yếu tố lăi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế...

- Thứ hai: T́m hiểu xem chiều hướng có thể gây ra rủi ro, ví dụ việc Ngân hàng Trung ương tăng lăi sẽ suất tác động đến giá cả CK như thế nào?

- Thứ ba: Kiểm tra lại xem biểu hiện rủi ro đang phân tích có phụ thuộc vào biến cố nào khác hay không, chẳng hạn công ty có biểu hiện rủi ro trong trường hợp không được tín nhiệm của khách hàng...

 

Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro: Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đă xác định ở trên. Cụ thể, dùng một phương pháp giả định nếu có nhân tố rủi ro th́ công ty được ǵ và mất ǵ.

 

Bưóc3: Đánh giá tác động của rủi ro: Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bài toán chi phí và lợi tức. Đôi khi, việc quản lư rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lư rủi ro như vậy có thực sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không.

 

Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương tŕnh bảo hiểm rủi ro. Để quản lư rủi ro có hai chiến lược:

- Thứ nhất: Dựa vào một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thuê họ thiết kế một giải pháp quản lư rủi ro cụ thể, thích hợp với chiến lược quản lư của công ty.

- Thứ hai: Tự công ty đứng ra thực hiện pḥng chống rủi ro bằng cách sử dụng các công cụ CK phái sinh như chứng quyền, chứng khế, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai... đồng thời xây dựng một đội ngũ nhân viên của công ty có khả năng lập và thực hiện hàng rào chống rủi ro. Vấn đề này đ̣i hỏi nhân viên công ty vừa phải thiết kế đúng lại vừa phải thực hiện tốt chương tŕnh pḥng chống rủi ro bởi quản lư rủi ro cần phải được theo dơi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời với sự biến đổi của thời gian.

 

Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lư rủi ro thích hợp: Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản lư rui ro. Trong bước này nhà quản lư phải chọn một giải pháp cụ thể. Chẳng hạn, đối với các công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, swap... làm công cụ pḥng chống rủi ro, công cụ này có ưu điểm là có tính thanh khoan cao và có hiệu quả về giá. Tuy nhiên, công cụ này không linh động, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dơi lại khá tốn kém.

 

Khi nào nên bán ra cổ phiếu?

Có lẽ là không tồn tại một loại cổ phiếu nào thực sự an toàn. Điều cốt yếu là các nhà đầu tư cần nhận biết được thời điểm thích hợp để bán ra cổ phiếu

 

Trong “tṛ chơi” chứng khoán, nhiều nhà đầu tư đă “mất cả ch́ lẫn chài” chỉ v́ bỏ qua thời điểm nên bán ra cổ phiếu, để rồi khi giá cổ phiếu sụt giảm th́ muốn bán cũng không thể nào bán được.

 

Việc xác định thời điểm tốt nhất để bán ra cổ phiếu được xem là khá khó khăn đối với các nhà đầu tư, cho dù đó là những nhà đầu tư nghiệp dư hay Soros hoặc John Neff . Bất kỳ nhà đầu tư chứng khoán nào cũng mong muốn đầu tư vào những công ty mà cổ phiếu có khả năng sinh lợi cao, giá cổ phiếu có xu hướng tăng mạnh, hoặc ít nhất cũng phải ổn định.

 

Tuy nhiên, sự thật không bao giờ như vậy, giá các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán liên tục biến động, các chỉ số quan trọng cũng lên xuống thất thường, lúc quá cao, lúc lại quá thấp khiến các nhà đầu tư luôn ở trong trạng thái bất an. Những thành công trong đầu tư chứng khoán luôn đ̣i hỏi các nhà đầu tư phải nắm vững kiến thức về chứng khoán, cũng như có kinh nghiệm trong đầu tư để t́m hiểu rơ cổ phiếu ḿnh đang giữ có ổn định không và liệu khi thị trường chứng khoán tụt dốc th́ nó bị ảnh hưởng xấu không. Đặc biệt, các nhà đầu tư cần biết rơ lúc nào không nên nắm giữ cổ phiếu nữa.

 

Sau đây là một số dấu hiệu giúp nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể nhận biết được thời điểm nào nên bán ra cổ phiếu.

 

1. Cơ cấu tổ chức điều hành công ty có sự xáo trộn: Nếu những nhà quản lư cấp cao, những người chịu trách nhiệm về sự thành công của doanh nghiệp, bắt đầu rời bỏ công ty th́ có thể xem đó là dấu hiệu bất lợi cho tương lai của công ty. Khi đó, các nhà đầu tư cần phải theo dơi và phát hiện xem tại sao lại có những thay đổi như vậy. Nếu phát hiện ra những dấu hiệu cho thấy công ty đang trở nên suy yếu trong lĩnh vực kinh doanh chính, th́ tốt nhất nên bán cổ phiếu của công ty đó đi và thay vào đó là t́m mua cổ phiếu của công ty khác trong cùng lĩnh vực nhưng mạnh hơn và có ban điều hành ổn định hơn.

 

2. Lợi nhuận và cổ tức giảm sút: Trong trường hợp này, các nhà đầu tư nên điều tra cẩn thận trước khi quyết định có nên bán cổ phiếu hay không. Nếu là do ban quản trị công ty quyết định không chia cổ tức để tập trung vốn cho việc phát triển và mở rộng quy mô công ty, th́ đó lại là điều tốt và cổ phiếu sẽ tăng giá trong tương lai. Nhưng thông thường th́ sự sụt giảm về lợi nhuận và cổ tức là dấu hiệu xấu cho thấy tương lai của công ty gặp nhiều khó khăn, khi đó đa số nhà môi giới đều khuyên khách hàng bán cổ phiếu đi.

 

Các công ty niêm yết có xu hướng chi trả cổ tức khá cao (trên 10%/năm) nên nhiều nhà đầu tư cho rằng đây là dấu hiệu tốt để tiếp tục nắm giữ cổ phiếu, nhưng không nên coi đây là căn cứ duy nhất để quyết định mua hay bán chứng khoán. Cổ tức chỉ thể hiện những kết quả trong quá khứ, không có ǵ bảo đảm việc đó sẽ tiếp diễn trong tương lai. Aiko Musaki, một nhà đầu tư cá nhân đang công tác tại bộ phận cổ phiếu và thị trường chứng khoán của hăng điện tử Matsushita, cho biết: “Theo tôi, các nhà đầu tư chứng khoán chỉ nên nắm giữ cổ phiếu của những công ty có cổ tức cao và ổn định, với điều kiện công ty đó có kế hoạch sử dụng vốn phát triển đúng hướng”.

 

3. Thị giá cổ phiếu lớn hơn nhiều lần so với giá trị thực: Thomas Calvin, một nhà đầu tư chiến lược của công ty chứng khoán Lufkin & Jenrette, cho rằng: “Những tranh căi về giá cổ phiếu của các công ty niêm yết đều chỉ mang tính một chiều, điều quan trọng là bản thân nhà đầu tư phải tự ḿnh xác định được giá trị thực của chúng. Hăy cẩn trọng với những cổ phiếu có thị giá cao vọt. Bong bóng cổ phiếu có thể vỡ bất cứ lúc nào”. Đúng là có một số nhà đầu tư dù biết rằng cổ phiếu của ḿnh đă vượt quá giá trị thực hàng chục lần nhưng họ vẫn chưa bán đi v́ muốn tŕ hoăn việc chịu thuế thu nhập cũng như hy vọng giá sẽ c̣n tăng nữa. Tuy nhiên, nếu cảm thấy thị giá đă vượt qua giá trị thực chất của cổ phiếu nhiều lần th́ nên bán cổ phiếu đi, bởi v́ nếu giữ lại những cổ phiếu này bạn sẽ phải chịu rủi ro rất cao và chỉ có thể tŕ hoăn việc chịu thuế chứ không thể không nộp thuế. Ngoài ra, khi bán ra cổ phiếu này th́ sẽ có cơ hội đầu tư vào cổ phiếu khác để đa dạng hóa danh mục và giảm thiểu rủi ro đầu tư của ḿnh.

 

4. Không c̣n lư do để lựa chọn cổ phiếu đó: Có thể lư do để các nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của Merck là bởi công ty này đă công bố một loạt các phát minh ra những loại thuốc mới có hiệu quả cao. Đột nhiên, một thời gian sau người ta phát hiện ra một trong số các loại thuốc đó của Merck có những tác dụng phụ bất lợi cho sức khỏe. Thế là thị phần của công ty bị sụt giảm và lợi nhuận của công ty trong tương lai cũng sẽ sụt giảm. Khi đó, các nhà đầu tư nên bán cổ phiếu của Merck đi v́ cổ phiếu này không c̣n tính hấp dẫn, cũng như không c̣n những lư do ban đầu để lựa chọn cổ phiếu nữa.

 

Mỗi nhà đầu tư trước những quyết định đều có các phân tích, tính toán kỹ lưỡng để t́m ra các lư do mua cổ phiếu. Tuy nhiên, thời gian trôi qua, nếu những lư do đó không c̣n phù hợp nữa, mặc dù giá cổ phiếu vẫn ổn định th́ các nhà đầu tư cũng nên bán cổ phiếu đó đi, bởi sự ổn định này chỉ là nhất thời và tiềm ẩn một đà tụt dốc trong tương lai.

 

5. Sự hài ḷng đối với danh mục đầu tư hiện tại không c̣n nữa: Có thể trong danh mục đầu tư sẽ có các cổ phiếu không phù hợp với các mục tiêu tài chính đặt ra trước đó (mua sắm tài sản, chuẩn bị cho kế hoạch nghỉ hưu...), khi đó tốt nhất nên bán các cổ phiếu đang có đi và tổ chức lại danh mục đầu tư mới phù hợp hơn với mong muốn của ḿnh.

 

Một danh mục đầu tư đa dạng sẽ ít rủi ro hơn một danh mục đầu tư tập trung vào một hay một ít loại đầu tư. Đa dạng hoá - nghĩa là dàn trải tiền của bạn ra các loại đầu tư khác nhau - làm giảm rủi ro, bởi v́ nếu một số khoản đầu tư của bạn đi xuống th́ số khác lại đi lên. Hăy làm tính toán một cách đơn giản: nếu bạn muốn nắm giữ số lượng cổ phiếu trị giá 100.000 USD, bạn nên nắm giữ năm loại cổ phiếu, mỗi loại trị giá 20.000 USD. Bạn không nên cố gắng nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định nào đó, bạn hăy đầu tư một số tiền đă định cho mỗi loại cổ phiếu.

 

Cách đây không lâu, Warren Buffet, một cây đại thụ trong giới đầu tư phố Wall, đă từng nói: “Đầu tư chứng khoán là h́nh thức kinh doanh đ̣i hỏi sự nhanh nhạy và óc phán đoán cao”. Quả thật, khi tham gia vào thị trường này, ngoài việc phải nắm bắt đầy đủ những thông tin từ thị trường, nhà đầu tư c̣n cần có khả năng phân tích và dự báo triển vọng phát triển của công ty, cũng như phải thực sự tỉnh táo nắm bắt được sự thay đổi nhanh nhạy của bất cứ thông tin nào có liên quan đến giao dịch trên thị trường, để từ đó kịp thời biết được lúc nào nên bán ra cổ phiếu.

 

Các nhà đầu tư đang ngày càng trở nên tinh thông hơn nhưng không v́ thế mà các rủi ro trong đầu tư chứng khoán sẽ giảm bớt. Trong một bài phát biểu của ḿnh, John Markese, chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư cá nhân của Mỹ nói: “Chất lượng, tính thời điểm và độ sâu rộng của thông tin trên thị trường chứng khoán đạt tới mức độ chưa từng có, nhưng nó vẫn không cho phép bạn dự đoán chính xác được tương lai. Hăy tỉnh táo, phân tích kỹ thị trường để từ đó đề ra được những quyết định cần thiết và hợp lư”.

 

 

Xây dựng hệ thống thông tin ở CTNY và CTCK

Thực tiễn hơn 2 năm hoạt động TTCK Việt Nam đă chỉ ra rất nhiều yếu kém của hệ thống thông tin (HHTT). Các nhà đầu tư không tin tưởng vào các thông tin trên thị trường v́ có quá nhiều thông tin kém tin cậy, không trung thực, thiếu chính xác hoặc không cập nhật kịp thời.

 

Xét ở tầm vi mô th́ hoàn thiện HNT cho TTCK thực chất là hoàn thiện HTTT ở các công ty chứng khoán (CTCK) và các công ty niêm yết (CTNY). Các CTCK và các CTNY có vai tṛ rất quan trọng trong TTCK, là những người làm nên thị trường, với các nghiệp vụ của no.

 

Tuy nhiên các CTCK ở Việt Nam đều triệt tiêu nghiệp vụ tư vấn, mà nghiệp vụ này th́ được coi là rất có giá trị ở TTCK phát triển. Nghiệp vụ tư vấn bị triệt tiêu do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan, chủ quan là phát sinh từ những yếu kém của HTTT. éể có thể phát triển hơn nữa, họ phải làm tăng uy tín của ḿnh ngay từ bây giờ trong những giới hạn có thể làm được nhằm đáp ứng sự phát triển của TTCK trong tương lai.

 

Thứ nhất, cần quán triệt đầy đủ các nguyên tắc về thông tin chứng khoán. Khi thông tin cho khách hàng của ḿnh cũng như thông tin rộng răi ra ngoài công chúng, các CTCK cần phải phản ánh trung thực các thông tin về chứng khoán, về các công ty niêm yết. Nếu có thông tin tốt về công ty niêm yết th́ phản ánh, tuy nhiên cần phải xác minh một cách rạch ṛi, chính xác bằng khả năng phân tích tổng hợp của các cán bộ chuyên môn, tránh t́nh trạng phát ngôn dựa theo nguồn thông tin không chính thống trôi nổi trên thị trường, đó là điều rất nguy hiểm. Nếu có thông tin không tốt về công ty niêm yết phải thông báo cho khách hàng của ḿnh, không nhất thiết phải thông báo rộng răi khi c̣n e dè, chưa đủ độ tin cậy,...

 

Khi thông tin đă trung thực hợp thời th́ khách hàng sẽ trở thành khách hàng trung thành của ḿnh, hơn nữa họ sẽ chính là những người quảng cáo hiệu quả nhất, uy tín nhất của ḿnh cho thị trường, đó mới chính là điều cần thiết nhất.

 

Thứ hai, phát huy hơn nữa những năng lực hiện có của công ty ḿnh để phát triển HTTT. Các CTCK của Việt Nam hiện nay đều là các pháp nhân kinh doanh ra đời từ các pháp nhân đă từng hoạt động tốt trên thi trường như các ngân hàng, tổng công ty; các tổ chức này địa trang bị cho ḿnh HTTT khá hoàn chỉnh như nối mạng diện rộng giữa các chi nhánh. Như vậy với thế mạnh sẵn có này, các CTCK nên có những giải pháp riêng cho ḿnh: chẳng hạn tiếp nhận thêm, thu hút thêm các nhà đầu tư từ các chi nhánh và thông qua hệ thống mạng thông tin này, khâu xử lư lệnh của công ty trở nên đơn giản, chứ không như các công ty không có mạng diện rộng, phạm vi hoạt động của họ rất hẹp.

 

Thứ ba, về lâu dài, các CTCK nên duy tŕ hoạt động tư vấn của ḿnh bằng cách đầu tư công tác thông tin chứng khoán như xây dựng các bộ phần mềm phân tích dữ liệu chứng khoán phù hợp với đặc thù TTCK Việt Nam. Ngay trước mắt, với nhu cầu c̣n nhỏ và nguồn ngân sách hạn hẹp, các công ty chưa thể làm ǵ hơn, tuy nhiên các công ty này phải có định hướng và kế hoạch thực hiện, chẳng hạn tài trợ các sinh viên giỏi về công nghệ thông tin, về chứng khoán, hướng dẫn họ nguồn tài liệu để nghiên cứu, gây thiện cảm về sau này hoặc có những quan hệ cộng tác với các chuyên gia giỏi trong những lĩnh vực trên, nhưng chưa phục vụ ngay công tác thông tin chứng khoán, sau này khi cần th́ họ có thể gánh vác trách nhiệm cùng công ty.

 

Về phía các CTNY, họ phải tự cứu lấy ḿnh ngay từ lúc này. Khi các CTNY chấp hành tốt các quy định về thông tin chứng khoán th́ HTTT chứng khoán của Việt Nam cũng sẽ được cải thiện đáng kể.

 

Thứ nhất, các CTNY phải chấp hành các quy chế về công bố thông tin. Hiện nay các công ty đang thực hiện việc công bố thông tin. Theo các quy định trong chương IV - Quy chế thông tin ban hành kèm theo Quyết định 04/1999/Qé-UBCKNN của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Quy chế hiện hành này tuy sẽ có những sửa đổi cho phù hợp hơn nhưng trước mắt các công ty vẫn phải chấp hành và nếu có những thắc mắc th́ phải nộp báo cán cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán, mà không thể ỷ lại vào việc chưa có chế tài xử phạt của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước để làm bừa, không chấp hành công tác thông tin, báo cáo theo quy định.

 

Thứ hai, các CTNY phải quán triệt các nguyên tắc về thông tin chứng khoán. Ta biết các thông tin chứng khoán phải trung thực, công khai, rơ ràng và minh bạch. Nếu thông tin cứ úp úp, mở mở, ai biết tới đâu th́ biết về công ty th́ họ sẽ thiếu đi một bộ phận các nhà đầu tư dài hạn.

 

Hơn nữa, khi thông tin ra thị trường về các báo cáo tài chính, các phương án kinh doanh của ḿnh các công ty cần phải hết sức thận trọng, cần tính tới mọi khả năng phát sinh chi phí... để khi thông tin khi (ra chính thức được công bố th́ đó là thông tin chính thức không thể có sự giải thích nào khác.

 

Các CTNY phải nhận thức được rằng sự trung thực về thông tin của công ty không phải là sự bí mật thông tin mà là nghĩa vụ và quyền lợi của ánh, nhà đầu tư sẽ t́m đến công ty nào làm ăn hiệu quả thật sự và thông tin trung thực về họ trên thị trường, là cách để công ty tồn tại lâu dài trên thị trường, hơn nữa sẽ là đối tượng rót vốn mở rộng sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai .

 

Thứ ba, các CTNY nên chuyên môn hoá bộ phận cung cấp thông tin, không để cán bộ thông tin làm việc kiêm nhiệm như hiện nay mà phải có các cán bộ thực sự làm việc trên. Họ hiểu rơ quyền lợi và nghĩa vụ của việc cung cấp thông tin, hiểu được các nguyên tắc thông tin của TTCK, cũng như thời điểm phù hợp để đầu ra những nguồn thông tin khác nhau, thông tin chiến lược, thông tin tác nghiệp, thông tin quản trị, thông tin quản lư... Hơn nữa, là người phụ trách thông tin chuyên nghiệp trong tổ chức, họ cũng biết rơ đâu là thông tin chính thức, không chính thức và đấu tranh chống lại những thông tin lá cải, sai lệch, những thông tin không trung thực về tổ chức của họ.

 

 

 

T́m hiểu kinh nghiệm QT về phát hành tăng vốn và chi trả cổ tức bằng CP

A. Phát hành tăng vốn: Doanh nghiệp sau khi thành lập có thể bắt đầu huy động vốn. Việc tăng vốn có thể được thực hiện qua 2 h́nh thức:

-          Phát hành cổ phiếu mới có xem xét phát hành quyền

-          Phát hành cổ phiếu mới không xem xét phát hành thưởng

 

a.      Phát hành cổ phiếu mới có xem xét: Phát hành cổ phiếu mới có xem xét là phương thức thường được sử dụng bởi các công ty tại Hàn Quốc, Đài Loan. Các nhà đầu tư có thể đặt mua cổ phiếu mới đă được phát hành thông qua 3 cách sau:

 

-          Thông qua phát hành quyền cho các cổ đông hiện hữu: Tùy theo bộ luật thương mại, cổ đông có quyền nhưng không có nghĩa vụ để mua các cổ phần trước. Nếu tất cả các cổ phần mới được phát hành không được mua hết trong thời hạn định trước, công ty có thể hoàn thành đợt phát hành mới bằng việc phân bổ phần c̣n lại cho tác đối tác.

 

-          Thông qua phân phối cho các bên đối tác: Quyền mua cổ phiếu mới với quyền ưu tiên trước có thể được cấp cho các bên đối tác có quan hệ khăng khít với công ty phát hành ví dụ  như: các nhân viên, các đối tác kinh doanh, các nhà cung cấp, các cổ đông chính.

 

-          Thông qua phát hành ra công chúng: Được phép của hội đồng quản trị, công ty có thể phát hành ra công chúng theo ư muốn, tuy nhiên phải ngoại trừ quyền mua của các đông hiện hữu.

 

b.      Phát hành mới không có xem xét: Phát hành mới không có xem xét dẫn tới việc tăng tổng số cổ phiếu đăng lưu hành của công ty, tuy nhiên không có sự tăng vốn cổ đông hoặc tổng tài sản của công ty phát hành tại thời điểm phát hành. Kiểu tăng vốn này được phân thành 2 loại:

 

-          Chuyển đổi dự trữ: Cổ phần mới được phát hành không có bất cứ sự thu hút nào các khoản tiền từ bên ngoài vào khi mà thặng dư vốn hoặc lợi nhuận giữ lại được chuyển thành vốn cổ phần.

 

-          Chuyển lợi nhuận thành vốn cổ phần nhằm chi trả cổ tức bằng cổ phiếu: Lợi nhuận của công ty được chuyển thành cổ tức dưới dạng cổ phiếu và trả cho các cổ đông hiện hữu. Cổ tức cổ phiếu có được là tùy thuộc vào tỷ lệ phân bổ chứng khoán sở hữu của doanh nghiệp tới các cổ đông. Ngược lại với trả cổ tức bằng tiền mặt, cổ tức của cổ phiếu được trả bằng cổ phiếu.

 

Tóm lại, việc tăng vốn của doanh nghiệp thường sẽ xem xét tới hai khả năng xảy ra, đó là:

-          Tăng cổ phần đă phát hành lên bằng cách phát hành cổ phiếu trên cơ sở giới hạn của vốn cổ đông.

-          Tăng vốn cổ đông bằng cách phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn làm tăng vốn điều lệ của công ty. Khi tăng vốn bằng cách này, vốn chủ sở hữu cũng tăng lên.

 

Ngoài ra c̣n có một số phương pháp phát hành tăng vốn khác như phát hành tại mức giá thị trường. Không giống như phát hành theo mệnh giá, đây là một phương thức mà giá của cổ phần được xác định bởi chính thị trường. Tại Hàn Quốc, trước khi vận dụng phương pháp này từ 12/1983, việc tăng vốn của các công ty được thực hiện trên cơ sở mệnh giá. Việc hướng dẫn hệ thống mới này chỉ ra rằng giá phát hành được xác định theo giá thị trường theo một tỷ lệ triết khấu nhất định do SEC Securities and Exchange Commision qui định. Sau 8/1987, tất cả các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc muốn tăng vốn đều thông qua hệ thống này. Sau đó, tháng 6/1991, tỷ lệ triết khấu hoàn toàn được thả nổi, mọi quyết định về tỷ lệ triết khấu được dựa trên quyết định của chính ban giám đốc điều hành công ty phát hành. Theo các qui định về quản lư tài chính của các công ty niêm yết, các công ty được phép phát hành cổ phần vốn tại mức giá thị trường ngoại trừ giá không bao gồm quyền hoặc giá cơ sở giảm xuống dưới mức mệnh giá.

 

Giá phát hành mới thường được xem xét giữa 2 lựa chọn, lấy lựa chọn nào có giá thấp hơn:

-          Lựa chọn thứ nhất là triết khấu từ mức giá không bao gồm quyền mua trong 5 ngày trước ngày ghi sổ.

-          Lựa chọn 2 có được bằng việc triết khấu giá cơ sở 7 ngày trước ngày đặt mua.

 

Lư do của việc xác định giá phát hành theo cách này là để cung cấp cho các cổ đông cơ hội đặt mua các cổ phiếu mới phát hành tại mức giá thấp nếu có thể. Các cổ đông hiện hữu thường tạo các quyết định mua hoặc không đối với các cổ phiếu mới trước ngày không quyền. Với lư do thời gian từ ngày không quyền tới lúc đặt mua thường lớn hơn 2 tháng, các cổ đông hiện hữu dễ bị đặt vào các t́nh huống biến động giá quá mức. Điều này có nghĩa là: trong giai đoạn này, nếu giá chứng khoán giảm và ai đó đặt mua cổ phiếu mới sẽ bị lỗ một khoản tương đương chênh lệch giữa giá thị trường và giá phát hành. Để đạt được lợi nhuận, cần thiết phải tính toán tới chọn lựa thứ 2 trên cơ sở giá thị trường đă giảm. Theo tính toán, khi giá thị trường của cổ phần hiện hữu đă tăng, lựa chọn 1 sẽ trở thành thực tế giá cho việc phát hành. Ngược lại khi nó giảm, lựa chọn 2 sẽ là giá phát hành thực tế.

 

Thí dụ:

 

·         Lựa chọn thứ nhất.

 

Giá không quyền  =   giá cơ sở + giá lựa chọn 1 x tỷ lệ tăng vốn / 1 + tỷ lệ tăng vốn. Trong đó giá cơ sở được xác định như sau: “Giá cơ sở là trung b́nh giá thị trường hoặc giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày cơ sở trước ngày ghi sổ 5 ngày 1 ngày” lấy giá thấp. Nghĩa là giá cơ sở có thể là 1 trong 2 giá sau, ở đó lấy giá nào thấp hơn:

-          giá đóng cửa trước ngày cơ sở 1 ngày.

-          giá trung b́nh= a + b + c / 3 trong đó:

+ a : Trung b́nh đóng cửa có trọng số khối lượng của các phiên trước ngày cơ sở 1 tháng.

+ b : Trung b́nh đóng cửa có trọng số khối lượng của các phiên trước ngày cơ sở 1 tuần.

+ c  : Giá đóng cửa ngày trước ngày cơ sở 1ngày.

 

Giá lựa chọn 1 =  giá không quyền  x  1 - tỷ lệ triết khấu

 

·         Lựa chọn thứ hai. Giá lựa chọn 2 =  giá cơ sở  x  1 - tỷ lệ triết khấu. Trong đó:

- “Giá cơ sở là trung b́nh giá thị trường hoặc giá đóng cửa của ngày giao dịch sau ngày khóa sổ 53 ngày 1 ngày” lấy giá thấp. Trung b́nh giá thị trường=a+b/2 trong đó:

       +a :  trung b́nh giá đóng cửa của 1 tuần gần ngày cơ sở  nhất nghĩa là trước ngày đặt mua 7 ngày.

       +y :  giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày cơ sở.

 

Và cuối cùng là giá phát hành có thể là 1 trong 2 giá trên với giá nhỏ hơn.

 

B. Trả cổ tức bằng cổ phiếu

 

Trả cổ tức bằng cổ phiếu thực chất là nhằm giữ lại các khoản lợi nhuận, thặng dư hoặc các khoản tiền của các quĩ nhằm củng cố lượng tiền mặt hiện có trong vốn của cổ đông cũng như của Doanh nghiệp để thúc đẩy việc đầu tư, kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp. Không có sự thay tăng giảm nào về vốn cổ đông cũng như tài sản của công ty. Về cơ bản, số lượng cổ phiếu sẽ tăng lên và làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên. c̣n tiếp 

 

Tại các Sở giao dịch chứng khoán của các nước có nền kinh tế phát triển, việc áp dụng h́nh thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu đă diễn ra rất lâu. Ngoài việc tuân thủ các qui định của Luật áp dụng đối với các công ty cổ phần, các qui định và hướng dẫn của Sở giao dịch, UBCK các nước, việc chi trả cổ tức theo h́nh thức như thế nào sẽ tùy thuộc vào quyết định của Đại hội cổ đông hoặc của Hội đồng quản trị công ty trên cơ sở xem xét của Đại hội cổ đông.

 

Ở Việt Nam, theo mục 1, điều 67, Luật Doanh nghiệp về chi trả cổ tức, công ty cổ phần chỉ trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lăi, đă hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật. Việc chi trả cổ tức do quyết định của Đại hội cổ đông công ty. Thông thường một công ty làm ăn có lăi sẽ chi trả cổ tức cho cổ đông dưới dạng tiền mặt. Khoản tiền này được trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đă trích lập các quĩ theo qui định của pháp luật doanh nghiệp, theo điều lệ của công ty và giữ lại một phần nhằm tái đầu tư phát triển sản xuất. Cũng theo Luật Doanh nghiệp, Cổ tức được định nghĩa là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của công ty để trả cho mỗi cổ phần. Như vậy trong các văn bản pháp luật hiện hành của chúng ta chưa hề có qui định nào nói về việc chi trả cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu.

 

Tuy nhiên tại các thị trường chứng khoán trên thế giới, có rất nhiều trường hợp các công ty không chi trả cổ tức dưới dạng tiền mặt. Thay vào đó, tùy thuộc vào t́nh h́nh công ty và quyết định của Đại hội cổ đông, các công ty sẽ chi trả cổ tức dưới dạng cổ phiếu. Khi đó, các vấn đề sau sẽ được lưu tâm:

 

a.      Nguồn cổ phiếu dùng chi trả cổ tức.

-          Phát hành mới: Việc phát hành mới cổ phiếu phục vụ chi trả cổ tức như đă nói trên trong phần phát hành tăng vốn. Tuy nhiên việc phát hành mới này không làm tăng vốn cổ đông do một mặt lượng cổ phiếu mới tăng lên làm cho lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên và vốn cổ phần theo đó tăng lên nhưng thực chất nó được chuyển đổi từ lợi nhuận, thặng dư vốn của công ty được giữ lại thay v́ đem chi trả cho cổ đông dưới dạng tiền mặt.

 

-          Cổ phiếu Ngân quĩ: Cổ phiếu Ngân quĩ là cổ phiếu mà công ty đă mua lại trên thị trường. Có nhiều lư do để công ty mua lại cổ phiếu do chính công ty phát hành trên thị trường, nhưng mục tiêu chủ yếu là tăng lợi nhuận chi trả cho cổ đông do số cổ phiếu mua lại này không có quyền nhận cổ tức, ngăn ngừa việc thâu tóm công ty, tăng lợi nhuận từ chính việc mua bán lại này, phục vụ cho việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu..

 

Ở Việt Nam, theo qui định trong Điều 65 về mua lại cổ phần theo quyết định của công ty  của Luật Doanh nghiệp,  Điều 54 Qui chế Thành viên, Niêm yết, Công bố Thông tin và Giao dịch Chứng khoán, tổ chức niêm niêm yết có quyền và chỉ được phép mua lại không quá 30% tổng số cổ phiếu phổ thông, một phần hoặc toàn bộ cổ phiếu khác đă phát hành và phải nộp đơn xin phép theo qui định của TTGDCK. Do đó nếu được phép thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, lượng cổ phiếu để chi trả cổ tức cũng sẽ nằm trong giới hạn trên đây.

 

b.      Tỷ lệ trả cổ tức bằng cổ phiếu: Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là tỷ lệ cổ tức bằng cổ phiếu nhận được trên số lượng cổ phiếu đang nắm giữ.

 

Ví dụ: Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là 10%, như vậy nếu 1 cổ đông nắm giữ 100 cổ phiếu sẽ được chi trả cổ tức tương ứng với 10 cổ phiếu.

 

c.       Loại cổ phiếu và số lượng:

-          Loại cổ phiếu: Loại cổ phiếu được chi trả cổ tức có thể bao gồm các loại như: cổ phiếu thường; cổ phiếu ưu đăi.

-          Số lượng: Tổng số lượng cổ phiếu dùng để chi trả cổ tức cho cổ đông do Đại hội cổ đông công ty công quyết định căn cứ trên thực tế lợi nhuận của công ty và việc cân đối các khoản tiền cũng như nhu cầu về tiền mặt của công ty.

 

d.      Phương pháp chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

 

-          Ngày ghi tên vào danh sách cổ đông: Người đang nắm giữ cổ phiếu muốn nhận được cổ tức phải có tên trong danh sách cổ đông vào ngày cuối cùng của năm tài chính. Do đó, tổ chức niêm yết thường sẽ phải công bố thông tin việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu trước ngày kết thúc năm tài chính một khoảng thời gian nhất định. Điều này cho phép người đầu tư có thể lựa chọn xem ḿnh có nên tiếp tục nắm giữ hay bán cổ phiếu.

 

-          Phương án chi trả đối với các cổ đông nắm giữ số lẻ cổ phiếu: Nếu số cổ tức chi trả bằng cổ phiếu là một số lẻ, cổ đông sẽ nhận được số cổ phiếu chẵn, phần lẻ c̣n lại sẽ được qui đổi thành tiền mặt và thanh toán cho cổ đông.

 

Ví dụ:  Một cổ đông sở hữu 70 cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là 5%. Như vậy, số lượng cổ phiếu nhận được sẽ là 3,5 cổ phiếu. Tổ chức niêm yết sẽ gom tất cả những phần cổ phiếu lẻ và bán ra thị trường sau đó thanh toán bằng tiền cho cổ đông. Như vậy vẫn đảm bảo được số lượng phát hành mà thỏa măn nhu cầu của nhà đầu tư. Đối với trường hợp trên đây, cổ đông nắm giữ 70 cổ phiếu sẽ nhận được 3 cổ phiếu và phần tiền qui đổi từ 0,5 cổ phiếu lẻ.

 

-          Các thay đổi sẽ xảy ra đối với cổ phiếu đang lưu hành: Trong khoảng thời gian nhất định như đă nói trên đây trước khi kết thúc năm tài chính, tổng số cổ phiếu của tổ chức niêm yết có thể tăng lên do một số các trường hợp đặc biệt như : cổ đông thực hiện các quyền kèm theo cổ phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi. Điều này dẫn đến thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu. Do đó, tổ chức niêm yết sẽ phải công bố rơ ràng về các các khả năng xảy ra thay đổi này.

 

e.      Ngày thông qua nghị quyết của Ban giám đốc về việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu

 

Thông thường, tỷ lệ chi trả cổ tức có thể thay đổi, vấn đề này quyết định ra sao tùy thuộc vào Đại hội cổ đông. Công ty phải thực hiện công bố thông tin về việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu và các vấn đề liên quan ra công chúng trước khi thực hiện chi trả một khoảng thời gian nhất định.

 

Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, việc xem xét và định hướng trước về chi trả cổ tức dưới h́nh thức cổ phiếu đang được xem xét. Để có thể thực hiện được nhiệm vụ đó, cần giải quyết các vấn đề sau đây:

 

1.       Xem xét bổ sung các qui định về vấn đề này đối với các văn bản pháp luật liên quan, trong đó quan trọng nhất là Luật Doanh nghiệp, Nghị định 48 của CP, các qui định, qui chế liên quan của UBCKNN về việc phát hành tăng vốn đối với việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, các qui định về điều lệ Doanh nghiệp.

 

2.       Khẩn trương xây dựng và nghiên cứu các qui tŕnh hướng dẫn thủ tục liên quan đến việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu cho các tổ chức niêm yết, trong đó lưu ư tới các vấn đề như sau:

-      Ngoại trừ việc tuân thủ các qui định trong điều lệ công ty, Ban giám đốc công ty xem xét các vấn đề liên quan tới việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu như: nguồn chi trả, tỷ lệ chi trả, ngày đăng kư cuối cùng, ngày chi trả, biện pháp giải quyết đối với các phần lẻ của cổ phiếu..

-      Hướng dẫn công bố thông tin và gửi thông báo cần thiết tới Sở giao dịch cũng như UBCK.

-      Hướng dẫn nộp hồ sơ xin phép phát hành bổ sung tăng vốn trong đó ghi rơ mục tiêu nhằm chi trả cổ tức bằng cổ phiếu theo các qui định mới.

-      Các qui tŕnh kết hợp với Sở giao dịch, UBCK trong việc thực hiện đóng sổ cổ đông, xác định chủ sở hữu thực sự được phép chi trả cổ tức, thông báo cho cổ đông, những người sẽ nhận được cổ tức bằng cổ phiếu.

-      Đăng kư thay đổi vốn với cơ quan có thẩm quyền.

-      Hướng dẫn Chuẩn bị và tŕnh các tài liệu, đơn liên quan đến niêm yết bổ sung.

 

Trong trường hợp các thủ tục trên đă tiến hành xong, Sở giao dịch cần có lộ tŕnh cụ thể căn cứ trên thông báo của tổ chức niêm yết, các giấy phép đă cấp để thông báo về ngày giao dịch không cổ tức, tiến hành tính toán chỉ số chứng khoán trên cơ sở thay đổi về số lượng cổ phiếu bổ sung niêm yết của công ty.

 

 

Thông tin về ngành KD của Công ty

Nhân tố quan trọng quyết định thành công của việc đầu tư vào công ty phát hành là thông qua việc t́m hiểu công ty thực hiện những hoạt động kinh doanh nào và các đối thủ cạnh tranh của công ty là ai. Bạn cũng có thể nêu ra câu hỏi liệu công ty phát hành có đăng kư bằng sáng chế cho sản phẩm của ḿnh không, v́ điều này sẽ giúp công ty có lợi thế hơn các đối thủ  cạnh tranh của ḿnh. Công ty phát hành có sử dụng  công nghệ cao không? Công ty có khả năng điều tiết giá cả không? Hay đây cũng chỉ là một công ty nữa trong một lĩnh vực kinh doanh vốn đă rất tràn ngập?

 

Những vấn đề này cùng những vấn đề liên quan khác sẽ được giải đáp trong phần Thông tin về ngành kinh doanh. Tuy nhiên bạn hăy chuẩn bị tinh thần phải đọc rất nhiều đấy. Những người chuẩn bị Bản cáo bạch có thể đặt ra giả thiết người đọc là những người lần đầu tiên t́m hiểu về công ty và do đó họ đưa ra các yếu tố về lịch sử, cơ cấu và các hoạt động của công ty nhằm tạo nên một bức tranh toàn cảnh về công ty.

 

Thông tin đưa ra thường bao gồm:

- T́nh h́nh các ngành kinh doanh chính mà công ty phát hành tham gia:

- Triển vọng của các ngành liên quan có ảnh hưởng tới hoạt động ngành kinh doanh chính của công ty phát hành;

- Loại sản phẩm / dịch vụ kinh doanh chính của công ty;

- Khách hàng và nhà cung cấp của công ty phát hành;

- Công nghệ, phương thức sản xuất và kênh phân phối sử dụng;

- Các nhân tố thương mại như hệ thống bán lẻ, đại lư, hệ thống phân phối, nhăn hiệu sản phẩm, giấy phép kinh doanh, bằng sáng chế và khả năng nghiên cứu và phát trên.

 

Đối với các công ty đăng kư niêm yết được hưởng chính sách ưu đăi th́ phần thông tin về ngành kinh doanh này trong Bản cáo bạch cũng cần phải công bố chi tiết các vấn đề về công nghệ của những công ty này.

 

 

Phân tích kỹ thuật: Hỗ trợ và kháng cự, Đường xu thế

a. Khái niệm hỗ trợ và kháng cự

 

Hỗ trợ và kháng cự là một tiếp cận khác hoàn toàn với tiếp cận định dạng tŕnh bày trước đây về hành vi của thị trường. Nó cho phép đưa ra quy tắc lựa chọn cổ phiếu để mua hoặc bán, trong việc đánh giá diễn biến giá cả của cổ phiếu và xác định vùng có vấn đề. Một số nhà phân tích đă xây dựng cho ḿnh một hệ thống riêng chỉ dựa vào khái niệm hỗ trợ và kháng cự và không cần để ư đến các định dạng giá cả và khối lượng nêu ở trên.

 

Hỗ trợ được hiểu như sau: ví dụ, một đám đông hỗ trợ cổ phiếu A tại giá 60, tức là sẵn sàng mua tất cả các cổ phiếu A với giá thấp hơn 5 điểm so với 60. Hỗ trợ là việc mua một khối lượng cổ phiếu đủ lớn để ngăn chặn xu hướng giảm giá trong một giai đoạn nào đó. Kháng cự được hiểu là ngược lại với hỗ trợ: bán cổ phiếu với khối lượng đủ lớn để đáp ứng tất cả các khoản chào mua, và do đó ngăn chặn không cho giá tăng lên. Như vậy, hỗ trợ và kháng cự gần như được hiểu là cầu và cung tương ứng.

 

Mức hỗ trợ là mức giá tại đó có đủ một khối lượng cầu mua cổ phiếu để ngăn chặn xu hướng giảm giá, hoặc có thể tăng giá. Mức kháng cự là mức giá tại đó có đủ chứng khoán cung ra để ngăn chặn xu hướng tăng giá. Vậy vùng hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu và vùng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung. Ví dụ, đường biên phía trên của h́nh thang là mức kháng cự, c̣n đường biên phía dưới là mức hỗ trợ. Đường biên phía trên của tam giác đi lên là mức kháng cự.

 

Cơ sở của dự đoán từ lư thuyết hỗ trợ và kháng cự là khối lượng giao dịch của một loại cổ phiếu có xu hướng tập trung lớn tại một số mức giá, tại đó có nhiều cổ phiếu được trao tay nhau. V́ bất kỳ mức giá nào mà tại đó có khối lượng lớn giao dịch xảy ra thường là điểm đảo chiều của xu thế cấp một, cấp hai, cấp ba, v́ vậy đảo chiều tại các mức giá đó luôn luôn có thể xảy ra. Tuy vậy, cần chú ư rằng các mức giá này thường xuyên thay đổi vai tṛ từ hỗ trợ sang kháng cự và ngược lại.

 

Một đỉnh, khi giá cổ phiếu đă vượt qua, có thể trở thành vùng đáy của xu thế đi xuống ở giai đoạn sau này, và một đáy cũ, một khi giá đă tụt qua nó, có thể trở thành vùng đáy của giai đoạn tăng giá sau này.

 

b. Ví dụ giải thích

 

Giả sử giá tăng, đạt 65, 68, 70. Chủ sở hữu cổ phiếu cho rằng họ đă nhận định đúng, v́ vậy họ vẫn chờ đợi. Nhưng sau đó giai đoạn giá tăng chấm dứt và giá bắt đầu tụt xuống 67, 65, 62, 60. Chủ sở hữu sẽ lo lắng nhưng họ vẫn tin sẽ có cơ hội thu lăi. Tại 60 giá bắt đầu chững lại một thời gian, sau đó giá giảm đột ngột. Người ta vẫn hy vọng việc giảm đột ngột này chỉ là sự điều chỉnh, nhưng hy vọng sẽ tiêu tan khi xu thế đi xuống vẫn tiếp tục. Các chủ sở hữu cổ phiếu bắt đầu lo thực sự:

 

có cái ǵ đó sai trái ở đây? Khi giá tụt đến 55 th́ không c̣n hy vọng thu lợi nhuận. Họ lập luận rằng phải kiên nhẫn chờ để giá quay trở lại 60 và tại đó họ sẽ rút lui khỏi thị trường.

 

Bây giờ ta xét trường hợp xu thế đi lên. Giá cổ phiếu đạt 12, sau đó tăng đến 24 và do đó người sở hữu cổ phiếu bán ra để thu lợi nhuận. Cổ phiếu phản ứng, tụt xuống 21 và người đầu tư thấy ḿnh đă gặp may. Nhưng sau đó giá lại vượt lên 30. Người chủ sở hữu cổ phiếu trước đây cảm thấy bị hớ, do đó họ lại muốn mua lại cổ phiếu, nhưng họ sẽ không mua với giá cao hơn 24. Đó là diễn biến chung của tâm lư thị trường.

 

Như vậy chúng ta đă giải thích nguyên lư cơ bản của mức hỗ trợ và kháng cự. Cần chú ư rằng sự cân bằng cung và cầu trên thị trường là vấn đề tế nhị. Chỉ cần có một mức cung dư thừa nhỏ là có thể kiềm chế sự tăng giá, và chỉ cần một mức cầu dư thừa là có thể ḱm hăm sự giảm giá. Tất cả các nhà giao dịch đều theo dơi sát sao thị trường và có thể nhận ra ngay một sự thay đổi của t́nh h́nh, và họ sẵn sàng tham gia vào cuộc chơi khi sự thay đổi của xu thế xuất hiện. V́ vậy chỉ cần thêm một ít các lệnh mua hoặc lệnh bán cổ phiếu là có thể kéo theo sự chuyển giao hàng ngh́n cổ phiếu.

 

Các nhà giao dịch và các nhà đầu tư khi họ tạo nên mức hỗ trợ hoặc kháng cự đều là những người có kinh nghiệm và thông thái trong việc tham gia vào hoạt động thị trường. Ví dụ, như trên đă nêu ra, những người mua tại giá 60 chắc chắn là thông minh hơn những người mua tại đỉnh 70 hoặc tại các điểm trong giai đoạn giảm giá xuống 60. Như vậy có thể nói rằng họ đánh giá t́nh h́nh sau này một cách thận trọng và khôn ngoan hơn những người bảo thủ quyết định ra khỏi cuộc chơi bằng cách bán ra khi thị trường đang hồi phục. Tức là khi thị trường chuyển sang xu thế giảm và họ đă mua cổ phiếu với giá cao th́ nay họ chờ đợi cơ hội để bán ra với giá thấp hơn là mức kháng cự. Những người thông minh sẵn sàng chịu hy sinh vài điểm để tránh rơi vào t́nh thế thua lỗ quá lớn.

 

Cũng vậy, tại thị trường con ḅ tót nhà đầu tư sẵn sàng trả thêm hai ba điểm để thay thế các cổ phiếu bán ra trước đây. Như vậy có một đặc trưng phản ứng đối với thị trường con ḅ tót là giá chỉ giảm đến một mức giới hạn của hỗ trợ - và đối với thị trường con gấu th́ đợt tăng giá chỉ đạt mức thấp nhất của vùng kháng cự.

 

c. Đánh giá cường độ của hỗ trợ - kháng cự

 

Nguyên lư đầu tiên là kháng cự trong giai đoạn tăng giá phải được đáp ứng tại mọi mức giá bởi số lượng cổ phiếu tồn đọng lần trước đó - số cổ phiếu mua trước đó tại mức giá này và người sở hữu chúng muốn bán hết ra để tránh bị lỗ. V́ vậy, khối lượng cổ phiếu là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá sức mạnh của vùng kháng cự.

 

Tại một đáy mà chỉ có 400-500 cổ phiếu trao tay không thể làm mức kháng cự đối với đợt tăng giá sau này, nhưng nếu tại đáy mà có không khí bán cổ phiếu mức hàng ngh́n sẽ tạo ra mức cung tiềm năng sau này, sau khi giá giảm dưới đáy trước và sau đó giá lại tăng để ḥng vượt qua đáy trước đây.

 

SH́nh b́nh hành hoặc tam giác đi xuống có một số đáy bằng nhau. Chúng ta có thể đánh giá sơ bộ về mức kháng cự này bằng cách cộng tất cả các giao dịch tại các đáy này. Nếu chỉ có một đáy với khối lượng giao dịch khá lớn th́ đó có nhiều khả năng là mức kháng cự hơn là trường hợp có nhiều đáy với tổng khối lượng giao dịch bằng trường hợp trên.

 

Tiêu chuẩn thứ hai là mức độ giảm giá sau đó, tức là giá phải tăng trong một khoảng bao nhiêu để đạt mức đáy cũ, là mức ta dự kiến đánh giá kháng cự. Nếu khoảng cách càng lớn th́ khả năng mức kháng cự càng nhiều. Ví dụ cổ phiếu bán ra trong giai đoạn giảm giá từ 30 xuống 20, sau đó ngập ngừng tại 20 trong vài ngày, tăng lên 24 và sau đó giảm xuống 19. Người đầu tư đă mua cổ phiếu giá 20 sẽ không lo lắng về t́nh h́nh này. Nếu giá bắt đầu tăng từ 19 th́ sẽ có một ít số người quan tâm đến việc bán ra tại 20. Nếu giá tụt xuống 18 sau đó tăng trở lại, th́ có nhiều người hơn muốn bán ra cổ phiếu tại giá 20. C̣n nếu là tăng từ giá 17 th́ 20 sẽ là mức kháng cự.

 

Như vậy, không thể t́m được nhiều cổ phiếu bán ra cung tại đáy ở trong khoảng 20 đến 35 nếu như không có mức giá thấp hơn 10% ở dưới khoảng trên. Quy tắc 10% không áp dụng đồng đều cho mọi cổ phiếu. Ví dụ, cổ phiếu có giá 3 đến 4 khác với loại cổ phiếu giá từ 20 đến 35.

 

Mặt khác, cần chú ư đến mức độ giảm giá. Nếu giá từ 20 đến 24 giảm xuống 12 th́ không những các nhà đầu tư đă mua vào với giá 20 sẵn sàng bán ra với mức giá đó, mà các nhà đầu tư đă mua với giá 12 cũng sẵn sàng bán ra với giá 20. Nhưng nhà đầu tư nếu mua cổ phiếu tại giá 18 th́ không sẵn sàng bán ra với giá 20.

 

Tiêu chuẩn thứ ba đánh giá cường độ của kháng cự tại một đáy trước đây là khoảng thời gian dài hay ngắn tính từ lúc xuất hiện đáy này trở đi và bản chất của diễn biến thị trường sau đó. Ví dụ đáy của xu thế cấp hai h́nh thành trong giai đoạn đầu của thị trường con ḅ tót sẽ có mức độ kháng cự thấp nếu sau đó giá giảm trong một thời gian dài một năm để sau đó đần dần tăng lên sau bốn năm. Việc bán ra cổ phiếu sau một hai năm sẽ có nhiều khả năng hơn là việc bán ra cổ phiếu sau bốn năm.

 

Nếu vùng kháng cự đă bị tấn công một lần và sau đó giá lại giảm th́ cường độ kháng cự sau này sẽ yếu đi. V́ một số cổ phiếu tồn đọng trước đă bán ra, do đó đợt tấn công thứ hai sẽ có ít cổ phiếu trong tay có thể tung ra để kháng cự lại xu thể tăng giá.

 

Như vậy, chúng ta đă ra ba tiêu chuẩn về cường độ kháng cự: khối lượng, khoảng cách và thời gian. Tuy vậy, sự suy đoán của bản thân người đầu tư là nhân tố đặc biệt quan trọng.

 

d. Đánh giá mức giá cụ thể

 

Trong thực tế mua bán chứng khoán, việc xác định chính xác vùng hỗ trợ và kháng cự không phải dễ dàng. Vấn đề là xét loại đồ thị có ích nhất trong việc xác định mức hỗ trợ hoặc kháng cự. Đối với các diễn biến cấp ba th́ đồ thị theo ngày là nguồn thông tin duy nhất, và đồ thị theo ngày kéo dài trong một năm sẽ có ích cho việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự của xu thế cấp hai. Tuy vậy, đồ thị theo ngày không cho một bức tranh toàn cảnh về triển vọng dài hạn để xác định mức hỗ trợ và kháng cự của xu thế cấp một và hai. Đồ thị theo tuần, gồm mức giá và khối lượng giao dịch, kéo dài trong cả một thời kỳ của thị trường con ḅ tót và thị trường con gấu là hữu ích đối với việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự.

 

Nếu nói về xu thế chung, th́ chúng là một cách biểu diễn lư tưởng của tất cả diễn biến thực tế cụ thể. Nếu nó là xu thế đi lên th́ nó bao gồm các đợt lên xuống mà mỗi đợt mức lên lại cao hơn mức đi xuống trước đó. Ví dụ tăng đến 10, giảm xuống 6, tăng lên 15, giảm xuống 10, tăng lên 20. V́ vậy, việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự phải qua kinh nghiệm phân tích các đồ thị cụ thể.

 

e. Sự diễn biến của một xu thế

 

Giả sử cổ phiếu đang ở xu thế thị trường con ḅ tót, tăng từ 12 lên 24, và tại đó khối lượng bán ra khá lớn. Kết quả là xuất hiện phản ứng: có sự điều chỉnh xu thế cấp hai từ 24 xuống 18, hoặc một dăy các dao động nhỏ h́nh thành nên trạng thái điều chỉnh, từ 24 xuống 21. Tiếp theo sự điều chỉnh là một giai đoạn tăng giá xuất hiện, đạt tới 30 trước khi vấp phải khối lượng cung cổ phiếu tập trung. Vậy xuất hiện một đợt phản ứng mới, hoặc là điều chỉnh cấp ba hoặc cấp hai. Nếu vậy th́ sau đó mức hỗ trợ ở đâu? Tất nhiên là tại 24, là mức của đỉnh lần đầu. Như vậy, trước đó đỉnh này làm chức năng kháng cự, và nay làm chức năng hỗ trợ.

 

Giả sử có xu thế cấp một giảm giá. Ví dụ đỉnh của xu thế cấp một giảm từ 70 xuống 50. Tại 50 xuất hiện không khí bán tạm thời cổ phiếu. Tại 50 có khối lượng lớn cổ phiếu được giao dịch, tiếp đó giá tăng đến 60. Tại 60 nhu cầu mua cổ phiếu chấm dứt, giá giảm và khối lượng giao dịch tăng tại 42. Một làn sóng mua xuất hiện, và sự hồi phục đợt hai xuất hiện, giá đạt mức 50. Mức giá. làm chức năng hỗ trợ ở giai đoạn một của xu thế cấp một giảm giá bây giờ chuyển sang làm vai tṛ kháng cự ở giai đoạn hồi phục thứ hai.

 

ĐƯỜNG XU THẾ

 

a. Đường xu thế

 

Trước đây đă đề cập nhiều đến xu thế. Để xem xét kỹ xu thế, v́ vậy, cần t́m cách vẽ đường xu thế một cách có hiệu quả nhất. Có một nhận xét chung là hầu hết các xu thế cấp hai và cấp ba hầu như đi theo đường thẳng. Các đường thẳng trên đường xu thế giảm cấp một thường là đường nối các đáy của các xu thế cấp ba. Ngược lại, trên đường tăng xu thế cấp một đường thẳng nối các đỉnh của xu thế cấp ba là đường xu thế cấp một. Như vậy, đường thẳng đi lên nêu trên của xu thế cấp một nối với đường thẳng đi xuống của xu thế cấp một là đường cơ bản của xu thế. Có thể vẽ thêm đường kép xu thế cấp một bằng cách nối các đáy khác hoặc các đỉnh khác của xu thế cấp một. Giả sử xu thế cấp một đi lên có thể vẽ đường xu thế đi qua các đáy của xu thế. Đường thẳng đi qua các đỉnh của xu thế cấp ba lúc đó được gọi là đường thu hoạch return line. Vùng giữa đường thu hoạch và đường xu thế được gọi là vùng kênh channels.

 

b. Các đường xu thế cấp hai

 

Với xu thế chung tăng giá, chúng ta có các giai đoạn cấp hai tăng, tức là đường xu thế cấp hai nằm trên xu thế cấp một tăng giá trong thị trường con ḅ tót. Xu thế cấp hai giảm giá nằm trong thị trường con gấu có khác với xu thế cấp hai trong thị trường con ḅ tót.

 

Đường xu thế cấp hai giảm trong thị trường con gấu không có quy luật đều đặn như đối với trường hợp thị trường con ḅ tót.

 

Góc độ dốc của đường xu thế cấp hai thường là lớn, đặc biệt trong thời kỳ hoảng loạn đặc trưng của giai đoạn hai của thị trường này. Mặt khác, giá có xu hướng tụt xa khỏi đường xu thế là đường thẳng đi qua hai đỉnh đầu tiên của thị trường con gấu. Giá cả có xu hướng giảm một thời gian, ngập ngừng một thời gian tại đáy, chuyển sang giai đoạn rẽ ngang, và xu thế sẽ không đảo chiều đi lên cho đến khi đi qua đường xu thế cấp một. Cũng v́ vậy mà đường thu hoạch ít khi được sử dụng đến. Một đặc trưng nữa là ở giai đoạn cuối cùng của thị trường con gấu, giai đoạn xu thế cấp hai đi xuống lần cuối cùng để sau đó đảo chiều nói chung là tuân theo quy luật chung một cách rơ nét. V́ vậy, khi nhận biết xu thế cấp hai đi xuống theo một quy luật rơ nét th́ đó là sự báo hiệu kết thúc của thị trường con gấu.

 

Sau khi thị trường con gấu đă đi được một quăng thời gian và trải qua giai đoạn bán tháo, thị trường đi vào giai đoạn ít hoạt động ít giao dịch nhưng có xu hướng giảm giá một cách có trật tự hơn. Nếu đường xu thế cấp hai này đă giảm giá nhưng không quá mức và tiếp xúc nhiều lần với các đợt tăng giá của xu thế cấp ba th́ giá sẽ không có khả năng giảm đột ngột nữa. Tiếp đó việc giá đi lên xuyên qua đường xu thế cấp một sẽ là tín hiệu đảo chiều để chuyển sang thị trường con ḅ tót.

 

 

Xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán

Hiểu một cách khái quát nhất th́ danh mục đầu tư là một tập hợp gồm ít nhất hai loại chứng khoán trở lên. Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng và quản lư một danh mục đầu tư là đa dạng hoá nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn

 

Khi bạn đồng thời đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, sự thua lỗ của một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục, thậm chí nhiều khi bạn có thể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các chứng khoán khác trong cùng một danh mục đó.

 

Tuy nhiên, việc hạn chế thua lỗ bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư cũng có một cái giá của nó: bạn cũng không thể thu được các khoản lợi nhuận lớn. Rất ít người đầu tư có thể thu được khoản lợi nhuận cao từ việc đầu tư tất cả số tiền của họ vào một loại chứng khoán tốt nhất hiện có trên thị trường. Do đó, đại đa số công chúng đầu tư chọn h́nh thức đầu tư thứ hai là giảm thiểu hoá thua lỗ bằng cách đa dạng hoá đầu tư. Và suy cho cùng th́ việc từ bỏ những món hời lớn, bằng ḷng với những khoản thu nhập vừa phải để tránh thua lỗ quá mức là một cái giá vừa phải và hoàn toàn hợp lư. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn từng bước trong việc xây dựng một danh mục đầu tư phù hợp với cá tính cũng như mục đích mà bạn đă chọn.

 

Bước 1: Xác định bạn là người đầu tư tích cực hay thụ động?

 

Khi bắt tay vào xây dựng danh mục đầu tư, điều quan trọng trước tiên mà bạn phải xác

định là xem ḿnh thuộc dạng nào: tích cực hay thụ động? Đây là một việc làm hết sức cần thiết, v́ nó sẽ quyết định đến toàn bộ cách thức đầu tư của bạn sau này. Người đầu tư tích cực là người luôn sẵn sàng bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để quản lư danh mục đầu tư của ḿnh. C̣n người đầu tư thụ động th́ chỉ muốn bỏ ra một khoảng thời gian tối thiểu cần thiết để theo dơi các khoản đầu tư và bằng ḷng với các khoản lăi khiêm tốn có được.

 

Cần lưu ư rằng quy mô đầu tư là không quan trọng mà điều cốt yếu là bạn tiêu tốn bao nhiêu thời gian và công sức cho danh mục đầu tư của ḿnh. Chúng ta có thể thấy rằng đa số các nhà đầu tư đều thuộc dạng thụ động, bởi v́ họ là những người không chuyên nghiêp, thiếu kỹ năng chuyên sâu cũng như đă bị các công việc hàng ngày chiếm mất quỹ thời gian.

 

Bước 2: Quyết định cơ cấu của danh mục đầu tư

 

Điều thứ hai cần tính đến là tỷ trọng cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đó. Đây là một quyết định mang tính chất cá nhân và tuỳ theo quan điểm mỗi người. Một số người không thích đầu tư quá nhiều vào cổ phiếu, c̣n một số khác lại không thích sở hữu quá nhiều trái phiếu. Cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn cụ thể về tỷ lệ này. Hiện nay, đa số ư kiến nghiêng về tỷ lệ 50/50, tức là 50% số tiền của danh mục được sử dụng để đầu tư vào cổ phiếu, phần c̣n lại sẽ được sử dụng để mua trái phiếu. Nhiều nhà tư vấn đề nghị tăng tỷ lệ trái phiếu trong danh mục khi chủ sở hữu sắp đến tuổi về hưu.

 

Tuy nhiên, một số cá nhân khác lại có quan điểm cho rằng, trước sức ép của lạm phát cũng như khả năng kiếm tiền sẽ suy giảm khi về già, chủ sở hữu danh mục nên tăng dần tỷ lệ cổ phiếu theo thời gian. Họ lập luận là không nên giảm tỷ lệ sở hữu cổ phiếu trong danh mục đầu tư v́ lương hưu và bảo hiểm xă hội sẽ không thể tăng như lạm phát. Chính v́ vậy mà cổ phiếu là một trong những lựa chọn được ưu tiên hàng đầu để chống lại ảnh hưởng của lạm phát. Tuy nhiên, cũng có khi thu nhập do cổ phiếu đem lại không theo kịp với tỷ suất lợi nhuận của trái phiếu chất lượng cao. Trong trường hợp này, đầu tư vào các trái phiếu chất lượng cao và để dành một khoản tiết kiệm để đối phó với lạm phát được xem là một biện pháp khả thi.

 

Ngoài ra c̣n một trường hợp khác mà chúng ta cũng cần đề cập tới, đó là tỷ trọng của danh mục đầu tư có cần phải điều chỉnh theo sự biến động của thị trường không? Giả sử rằng bạn đang có trong tay một danh mục đầu tư với tỷ lệ 50/50. Nếu thị trường cổ phiếu tăng giá và làm cho danh mục của bạn có tỷ lệ 65% cổ phiếu và 35% trái phiếu th́ bạn có nên bán bớt một số cổ phiếu để đưa danh mục trở về tỷ lệ 50/50 hay không? Xung quanh vấn đề này vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau nhưng nh́n chung đại đa số các nhà đầu tư sẽ không bán đi cổ phiếu để đề pḥng trường hợp khi cổ phiếu giảm giá th́ danh mục sẽ trở về mức cân bằng 50/50.

 

Bước 3: Đa dạng hoá danh mục đầu tư

 

1. Đa dạng hóa tổ chức phát hành. Nếu danh mục đầu tư của bạn chỉ bao gồm toàn bộ các trái phiếu Chính phủ th́ bạn không cần phải đa dạng hoá chủng loại các chủ thể phát hành, bởi v́ trái phiếu Chính phủ hoàn toàn không có rủi ro. Tuy nhiên, nếu bạn mua trái phiếu công ty, trái phiếu địa phương hoặc cổ phiếu th́ việc đa dạng hoá chủ thể phát hành là một vấn đề cần được cân nhắc, bởi v́ các loại chứng khoán này luôn tiềm tàng một số rủi ro nhất định. Vấn đề đặt ra là nên đa dạng hóa đến mức độ nào? Điều này c̣n tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi cá nhân. Chẳng hạn như nếu bạn mua cổ phiếu của 20 nhà phát hành khác nhau và khi một nhà phát hành chẳng may bị phá sản th́ danh mục đầu tư của bạn chỉ bị suy giảm 5%. Mỗi nhà đầu tư sẽ tự đưa ra quyết định cho danh mục đầu tư của ḿnh dựa vào cá tính bản thân, tiềm lực tài chính cũng như mức độ rủi ro mà họ có thể chịu đựng.

 

2. Bên cạnh việc đa dạng hoá các tổ chức phát hành, bạn cũng cần đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hóa các nguồn thu hoặc có thể đa dạng hoá theo vị trí địa lư. Bạn cần chú ư rằng, càng đa dạng hoá th́ sẽ càng hạn chế được rủi ro, tuy nhiên đừng nên đa dạng hoá quá nhiều v́ như vậy sẽ tốn rất nhiều công sức quản lư và đến một lúc nào đó th́ danh mục sẽ vượt quá tầm kiểm soát của bạn.

 

* Ứng dụng lư thuyết hiện đại trong quản lư danh mục đầu tư

 

Tại Việt Nam việc ứng dụng các lư thuyết hiện đại vào quản lư danh mục đầu tư c̣n là một vấn đề khá mới và chưa thật sự mang tính chuyên nghiệp.

 

Trong quá tŕnh phát triển của nền kinh tế, tất yếu sẽ tồn tại các doanh nghiệp làm ăn rất hiệu quả. Đồng vốn dư thừa của họ sẽ có xu hướng chảy vào những lĩnh vực đầu tư hấp dẫn hơn. Đầu tư chứng khoán ra đời để giải quyết nhu cầu đó.

 

Khi đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, nhà đầu tư có thể đầu tư cùng một lúc vào nhiều sản phẩm khác nhau chứ không nhất thiết họ phải phụ thuộc vào một vài sản phẩm cố định như khi họ đầu tư thực. Đầu tư chứng khoán không chỉ làm mở rộng môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư mà tự thân nó len lỏi vào từng ngơ ngách trong nền kinh tế thu hút đầu tư ḍng vốn cực nhỏ cho đến nguồn lực dồi dào nhất. Tại Việt Nam việc ứng dụng các lư thuyết hiện đại vào quản lư danh mục đầu tư c̣n là một vấn đề khá mới và chưa thật sự mang tính chuyên nghiệp.

 

Tất cả các quyết định đầu tư đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi và những tác động của chúng trên giá chứng khoán cũng như kết quả tài chính cuối cùng đạt được trong quyết định đầu tư. Ở một số quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, từ rất lâu nhà đầu tư đă biết áp dụng nguyên tắc “không bỏ trứng vào cùng một rổ”, thông qua mô h́nh quản lư danh mục đầu tư hiệu quả kết hợp lư luận có liên quan đến rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi (Mô h́nh định giá tài sản vốn - CAMP) và lư thuyết định giá chênh lệch (APT) để lựa chọn tập hợp chứng khoán hiệu quả nhất

 

Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của danh mục, nhà đầu tư phải đánh giá dựa trên hai yếu tố quan trọng: đó là rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Tất cả các quyết định đầu tư đều dựa trên hai yếu tố này và những tác động của chúng đối với vốn đầu tư.

 

Rủi ro được xem như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tài chính. Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớn được xem như có rủi ro cao hơn chứng khoán có khả năng xuất hiện những khoản lỗ thấp hơn. V́ vậy, rủi ro được mô tả bằng sự biến đổi của các tỷ suất sinh lợi của chứng khoán đó trong thời kỳ nghiên cứu.

 

Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chịu tác động của rất nhiều yếu tố rủi ro, những yếu tố này có thể bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danh mục đầu tư hiệu quả của nhiều chứng khoán được gọi là rủi ro không hệ thống, phần lợi nhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần bù rủi ro chứng khoán bx (Xm – Xf). Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệ thống, phần lợi nhuận mong đợi tương ứng với loại rủi ro này chính là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro Xf.

 

Mô h́nh APT

 

Vào thập niên 1970 S.A Ross đă triển khai mô h́nh APT (Arbitrage pricing theory) trong việc mua bán các loại chứng khoán hàng hoá khối lượng lớn, ngoại tệ giữa các thị trường để hưởng chênh lệch giá..Lư thuyết APT cho rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là một hàm số tuyến tính của tập hợp các yếu tố có khả năng xảy ra rủi ro đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.

 

CAPM (Capital asset pricing model) được phát triển trong đầu thập kỷ 60. Thay thế cho CAPM, lư thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) đă được phát triển trong thời gian gần đây. V́ mục đích của nhà đầu tư, những khác nhau giữa hai mô h́nh xuất phát từ cách xử lư của APT đối với sự phụ thuộc giữa tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán. APT cho rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán được tạo bởi một số các nhân tố của toàn ngành và toàn thị trường. Mối tương quan giữa một cặp chứng khoán xảy ra khi hai chứng khoán này bị ảnh hưởng bởi cùng một hay nhiều nhân tố. Ngược lại, CAPM cho phép các chứng khoán tương quan lẫn nhau, nó không chỉ rơ các nhân tố tạo ra sự tương quan này.

Cả APT và CAPM hàm ư mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro.

 

Theo ư kiến (có phần hơi thiên lệch) của chúng tôi, APT cho phép mối quan hệ này được phát triển theo một cách thức trực quan riêng biệt. Ngoài ra APT nh́n nhận rủi ro một cách khái quát hơn chứ không thuần túy là độ lệch chuẩn hay beta của chứng khoán tương ứng với danh mục thị trường. V́ vậy chúng tôi đưa ra cách tiếp cận này như là một sự thay thế cho CAPM.

Thành phần của mô h́nh: Thông tin được công bố, sự đột biến, và tỷ suất sinh lợi mong đợi.

 

Để cụ thể hơn, giả sử chúng ta xem xét tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của công ty F. Điều ǵ sẽ xác định tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu này trong tháng tới?

Tỷ suất sinh lợi của bất kỳ cổ phiếu nào giao dịch trên thị trường tài chính cũng bao gồm 2 phần. Phần thứ nhất gọi là tỷ suất thông thường hay tỷ suất kỳ vọng của cổ phiếu mà các cổ đông trên thị trường tiên đoán hay mong đợi. Tỷ suất này phụ thuộc vào tất cả các thông tin gắn liền với cổ phiếu mà các cổ đông tiếp cận được, và nó sử dụng tất cả những hiểu biết của chúng ta về những yếu tố sẽ tác động lên cổ phiếu vào tháng tiếp theo. Phần thứ hai được gọi là tỷ suất sinh lợi rủi ro hay không chắc chắn của cổ phiếu. Thành phần này do những thông tin được hé mở trong tháng. Không thể liệt kê hết những thông tin này, ví dụ:

 

- Tin tức về nghiên cứu mới của công ty.

- Số liệu thống kê về GNP được chính phủ công bố.

- Phát hiện sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh.

- Thông tin về sự tăng trưởng doanh số của công ty cao hơn dự kiến.

- Sự sụt giảm đột biến của lăi suất.

 

Cần thận trọng khi nghiên cứu những tác động của những thông tin kể trên hay những tin tức khác đối với tỷ suất sinh lợi. Đơn cử như chính phủ phải cung cấp số liệu về GNP hay tỷ lệ thất nghiệp cho tháng này, nhưng hiện nay các cổ động nắm được đến mức độ nào về những thông tin trên? Chắc chắn rằng vào đầu tháng các cổ đông chỉ có thể tiên đoán GNP tháng này là bao nhiêu. Trong phạm vi tiên đoán của các cổ đông về các công bố của chính phủ th́ những tiên đoán này là nhân tố của tỷ suất sinh lợi mong đợi vào đầu tháng. Mặt khác, ở mức độ các công bố bất ngờ của chính phủ và trong phạm vi tác động đến lợi nhuận của cổ phiếu, các công bố sẽ là một phần của U, phần không thể tiên liệu của tỷ suất sinh lợi.

 

Bất kỳ một công bố nào có thể được chia làm 2 phần, phần dự đoán hay mong đợi và phần đột biến: Công bố = Phần mong đợi + Đột biến

 

Phần mong đợi của bất kỳ một công bố nào là một phần của thông tin mà thị trường sử dụng để tạo lập tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu (R). Phần đột biến của thông tin tác động đến tỷ suất sinh lợi không mong đợi của cổ phiếu (U)...

 

 

Cần lưu ư rằng rủi ro trong một danh mục lớn và phân tán hóa đúng mức là các rủi ro hệ thống bởi v́ rủi ro phi hệ thống đă bị phân tán hóa hoàn toàn. Có một sự ngầm hiểu rằng khi một cổ đông sử dụng phân tán hóa đầy đủ quan tâm đến việc nắm giữ một cổ phiếu nào đó th́ anh ta có thể bỏ qua rủi ro phi hệ thống của chứng khoán đó

 

Các danh mục và các mô h́nh nhân tố

 

Chúng ta hăy xem điều ǵ sẽ xảy ra với một danh mục cổ phiếu khi mỗi cổ phiếu thành phần tuân theo mô h́nh một nhân tố. Để bàn luận, chúng ta sẽ chọn một tháng kế tiếp và quan sát tỷ suất sinh lợi. Lẽ ra chúng ta cũng có thể sử dụng một ngày hay một năm hay một khoảng thời gian bất kỳ. Tuy nhiên nếu là khoảng thời gian năm giữa những quyết định chúng ta nên chọn khoảng thời gian ngắn, một tháng là khung thời gian lư tưởng cần chọn.

 

Chúng ta sẽ tạo những danh mục từ n cổ phiếu, và sử dụng mô h́nh một nhân tố để đo lường rủi ro hệ thống. Do đó cổ phiếu thứ i trong danh sách sẽ có tỷ suất sinh lợi là

Ri = Ri + b iF + e (1)

 

trong đó i đại diện cho cổ phiếu thứ i. Chú ư rằng yếu tố F không có chỉ số dưới. Nhân tố đại diện cho rủi ro hệ thống có thể là sự đột biến trong GNP, hay chúng ta có thể sử dụng mô h́nh thị trường và chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi của S&P 500 và kỳ vọng của chúng ta về tỷ suất này, RS&P500 - RS&P500 làm nhân tố. Trong cả hai trường hợp, nhân tố được chọn áp dụng cho tất cả các cổ phiếu.

bi được đặt chỉ số dưới bởi v́ nó thể hiện một cách đơn nhất mà nhân tố tác động đến cổ phiếu. Để tóm tắt bàn luận của chúng ta, nếu bằng không, tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu thứ i sẽ là : Ri = Ri + ei

 

Với ư nghĩa rằng tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu thứ i không bị tác động bởi nhân tố, F, nếu bi bằng không. Nếu bi dương những biến động tăng giảm của nhân tố sẽ làm tăng giảm tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu i. Ngược lại nếu bi âm tỷ suất lợi nhuận và nhân tố sẽ vận động ngược chiều.

 

Bây giờ chúng ta hăy xây dựng một danh mục trong đó mỗi cổ phiếu tuân theo mô h́nh một nhân tố và xem điều ǵ sẽ xảy ra. Cho Xi là tỷ lệ chứng khoán i trong danh mục. Do X thể hiện phần đầu tư của chúng ta vào mỗi cổ phiếu nên sẽ có tổng số là 100% hay 1. Ta có:

X1 + X2 +......+ XN =1

 

Chúng ta biết rằng tỷ suất sinh lợi của danh mục bằng trung b́nh trọng số của các tỷ suất sinh lợi của từng chứng khoán cấu thành danh mục. Ta có thể viết lại theo đại số như sau:

RP = X1R1 + X2R2 + X3R3 + ..... XNRN (2)

Chúng ta đă thấy trong phương tŕnh (1) mỗi cổ phiếu lại bị tác động bởi cả nhân tố F và rủi ro không hệ thống ei. Do đó thay thế mỗi Ri từ phương tŕnh (1) vào phương tŕnh (2) ta có:

Rp = X1(R1 + b1F + e1) + X2 (R2 + b2F + e2) + X3(R3 + b3F + e3) + ... ... + XN(RN + bNF + eN) (3) .

 

Phương tŕnh cho chúng ta thấy rằng tỷ suất sinh lợi của danh mục được xác định bởi ba tập hợp các tham số:

1. Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của mỗi chứng khoán thành phần, Ri

2. Tích số giữa Beta và nhân tố F, biF

3. Rủi ro phi hệ thống của mỗi chứng khoán, ei.

Chúng ta có thể viết lại phương tŕnh (3) theo tập hợp 3 tham số như sau:

Rp = X1R1 + X2R2 + X3R3 + ...... + XNRN

+ (X1b1 + X2b2 + X3b3 +......+ XNbN)F

+ X1e1 + X2e2 + X3e3 + .......+ XNeN (4)

 

Phương tŕnh tuy khá dài ḍng nhưng dễ hiểu. Hàng đầu tiên là trung b́nh trọng số tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của mỗi chứng khoán. Các phần tử trong ngoặc đơn của hàng thứ hai là trung b́nh trọng số các beta của các chứng khoán. Số trung b́nh này được nhân với nhân tố F. Hàng thứ ba biểu hiện trung b́nh trong số rủi ro phi hệ thống của các chứng khoán.

 

Các danh mục và sự phân tán rủi ro

 

Do các nhà đầu tư thường cầm giữ các danh mục phân tán hóa rủi ro nên phương tŕnh (4) sẽ như thế nào trong trường hơp một danh mục lớn hay phân tán hóa rủi ro. Mặc dù chúng ta đang nói đến đầu tư chứng khoán không phải may rủi như tṛ chơi quay số nhưng một số nguyên lư chung vẫn được áp dụng. Mỗi chứng khoán có rủi ro phi hệ thống riêng trong đó sự đột biến không tương quan với sự đột biến của chứng khoán khác. Bằng cách đầu tư chia nhỏ trong cho mỗi chứng khoán, rủi ro phi hệ thống trung b́nh sẽ tiến đến không đối với một danh mục lớn. Cho dù hàng thứ ba sẽ triệt tiêu hoàn toàn trong một danh mục lớn, không có ǵ bất thường đối với hàng thứ nhất và hàng thứ hai.

 

 Hàng thứ nhất vẫn là trung b́nh trong số tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của các chứng khoán được chọn vào danh mục. Do không có sự đột biến nào ở hàng thứ hai nên chúng ta không thể phân tán hóa nhằm triệt tiêu hàng này. Các phần tử trong ngoặc đơn của hàng thứ hai vẫn là trung b́nh trọng số của các beta. Chúng vẫn không bị triệt tiêu khi chúng ta tăng số lượng các chứng khoán. Bởi v́ nhân tố F không bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng các chứng khoán trong danh mục nên hàng thứ hai không thể bị triệt tiêu.

 

Tại sao hàng thứ ba bị triệt tiêu trong khi hàng thứ hai th́ không mặc dù cả hai hàng đều biểu hiện sự không chắc chắn? Điểm mấu chốt là có nhiểu rủi ro phi hệ thống ở hàng thứ 3. Do bởi những rủi ro này độc lập với nhau nên tác động của phân tán hóa càng lớn khi chúng ta chọn thêm nhiều chứng khoán vào danh mục. Danh mục này càng ít rủi ro hơn và tỷ suất sinh lợi trở nên chắc chắn hơn. Tuy nhiên rủi ro hệ thống tác động đến mọi chứng khoán do nó nằm ngoài ngoặc đơn trong hàng thứ hai. Do nhà đầu tư không thể tránh được nhân tố này khi đầu tư vào nhiều chứng khoán nên sự phân tán hóa không thể diễn ra trong hàng này.

 

Cần lưu ư rằng rủi ro trong một danh mục lớn và phân tán hóa đúng mức là các rủi ro hệ thống bởi v́ rủi ro phi hệ thống đă bị phân tán hóa hoàn toàn. Có một sự ngầm hiểu rằng khi một cổ đông sử dụng phân tán hóa đầy đủ quan tâm đến việc nắm giữ một cổ phiếu nào đó th́ anh ta có thể bỏ qua rủi ro phi hệ thống của chứng khoán đó. Các cổ phiếu cũng như một danh mục không có rủi ro phi hệ thống. Cũng như chúng ta không nói rằng rủi ro phi hệ thống sẽ không tác động ǵ đến tỷ suất sinh lời của chúng. Cổ phiếu luôn có rủi ro phi hệ thống và tỷ suất sinh lợi thực tế của nó phụ thuộc vào rủi ro phi hệ thống.

 

Tuy nhiên do rủi ro này triệt tiêu lẫn nhau trong một danh mục được phân tán đúng mức các cổ đông có thể bỏ qua rủi ro phi hệ thống này khi họ quan tâm đến việc có hay không chọn một cổ phiếu vào danh mục. Do đó nếu các cổ đông bỏ qua rủi ro phi hệ thống chỉ c̣n rủi ro hệ thống của một cổ phiếu được liên hệ với tỷ suất sinh lợi của nó.

 

Một danh mục lớn, phân tán không có rủi ro phi hệ thống bởi v́ rủi ro phi hệ thống của mỗi chứng khoán đă được phân tán hoàn toàn. Giả định có đủ chứng khoán để danh mục thị trường được phân tán đúng mức và không có chứng khoán nào có tỷ lệ áp đảo trên thị trường, danh mục này được phân tán hoàn toàn và không có rủi ro phi hệ thống. Nói cách khác, danh mục thị trường có tương quan hoàn toàn với nhân tố đơn, nghĩa là danh mục thị trường là phiên bản to hoặc nhỏ hơn về quy mô của nhân tố. Sau khi mô phỏng với tỷ lệ thích hợp chúng ta có thể xem danh mục thị trường như là nhân tố.

 

Trong quản lư danh mục đầu tư Mô h́nh định giá chứng khoán vốn và lư thuyết kinh doanh chênh lệch giá CAPM và APT là hai mô h́nh có thể thay thế lẫn nhau của rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Thật quan trọng nếu ta quan tâm đến sự khác nhau giữa hai mô h́nh cả về lư luận lẫn ứng dụng trong thực tế.

 

Các đặc tính của cổ phiếu ngoài việc được sử dụng làm nền tảng cho việc ước lượng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng chúng c̣n được sử dụng rộng răi như là một cách mô tả phong cách quản lư vốn đầu tư. Ví dụ một danh mục có tỷ số P/E vượt mức trung b́nh của thị trường có thể được mô tả như danh mục P/E cao hay danh mục cổ phiếu tăng trưởng.

 

Khác nhau về lư luận

 

Mô h́nh CAPM mang đến cho chúng ta lư thuyết về những tập hợp hiệu quả. Cách hành xử này bắt đầu từ trường hợp của hai chứng khoán rủi ro cho đến trường hợp nhiều chứng khoán và kết thúc khi một chứng khoán phi rủi ro được kết hợp với nhiều chứng khoán rủi ro có giá trị rất lớn về mặt trực giác. Cách tŕnh bày này không dễ ǵ đạt được đối với APT.

 

Tuy nhiên, APT cũng có một lợi điểm đối trọng. Mô h́nh cộng thêm các yếu tố cho đến khi rủi ro phi hệ thống của bất kỳ một chứng khoán không tương quan với rủi ro phi hệ thống của mỗi chứng khoán c̣n lại. Với công thức này, nó dễ dàng được chỉ ra rằng (1) rủi ro phi hệ thống giảm đều (và cuối cùng triệt tiêu) khi số lượng các chứng khoán trong danh mục tăng nhưng (2) rủi ro hệ thống không tăng. Điều này cũng được chỉ ra trong CAPM mặc dù về mặt trực giác có mờ nhạt hơn do các rủi ro phi hệ thống có thể tương quan lẫn nhau giữa các chứng khoán.

 

Khác nhau trong ứng dụng

 

Một trong những lợi thế của APT là nó có thể xử lư đa nhân tố trong khi CAPM bỏ qua chúng. Mặc dù rất nhiều các tŕnh bày của chúng tôi trong chương này tập trung vào mô h́nh một nhân tố nhưng mô h́nh đa nhân tố có lẽ phản ánh thực tế nhiếu hơn. Có nghĩa rằng ta phải lấy ra từ các nhân tố của toàn thị trường và toàn ngành trước khi rủi ro phi hệ thống của một chứng khoán tương quan với rủi ro phi hệ thống của các chứng khoán khác. Ở dạng đa nhân tố của APT, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro có thể được biểu hiện như sau:

 

R = RF + (R1 - RF) b1 + (R2 - RF) b2 + (R3 - RF) b3 + ...... + (RK - RF) bK ( 5)

Trong phương tŕnh này b1 kư hiệu cho beta của chứng khoán ứng với nhân tố thứ nhất, b2 kư hiệu cho beta của chứng khoán ứng với nhân tố thứ hai và tiếp diễn như vậy. Ví dụ nếu nhân tố thứ nhất là GNP th́ b1 là beta GNP của chứng khoán. Kư hiệu là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán (hay danh mục) mà có beta ứng với nhân tố thứ nhất là 1 và có beta ứng với các nhân tố khác bằng 0.

 

Do thị trường bù đắp cho rủi ro nên (R1-RF) sẽ dương trong trường hợp b́nh thường. Phương tŕnh này thể hiện tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán liên quan đến beta của chứng khoán tương ứng với mỗi nhân tố. Ư nghĩa của phương tŕnh (5) rất đơn giản. Mỗi nhân tố đại diện cho một rủi ro không thể phân tán hóa hoàn toàn. Beta của chứng khoán tương ứng với một nhân tố càng cao th́ rủi ro của chứng khoán phải gánh chịu càng cao. Phương tŕnh trên thể hiện tỷ suất sinh lợi là tổng của lăi suất phi rủi ro cộng với phần đền bù cho mỗi loại rủi ro mà chứng khoán phải gánh chịu.

Do rất nhiều nhân tố xuất hiện APT có khả năng tiềm ẩn đo lường tỷ suất sinh lợi kỳ vọng chính xác hơn CAPM. Tuy nhiên như chúng tôi đă đề cập ta không thể xác định dễ dàng đâu là nhân tố thích hợp. Các nhân tố của ví dụ trên được sử dụng v́ cả hai lư do thuận tiện và dễ hiểu. Chúng không được suy ra từ lư thuyết.

Cách tiếp cận thực nghiệm đối với định giá chứng khoán

 

Các mô h́nh thực nghiệm CAPM và APT không làm giảm đi chút nào các mô h́nh và các phương pháp sử dụng trong thực tế để đo lường tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán. Cả CAPM và APT là những mô h́nh dựa vào rủi ro. Mỗi mô h́nh đo lường rủi ro của chứng khoán bằng beta của nó tương ứng với một nhân tố hệ thống và luận giải rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng phải tỷ lệ với beta. Mặc dù chúng ta nhận thấy điều này có một sức hút hiển nhiên và có nền tảng vững chắc về lư thuyết, nhưng vẫn c̣n những cách tiếp cận khác.

 

Hầu hết các cách tiếp cận đó có thể được gộp chung lại dưới một tên gọi chung là những phương pháp tham số hay thực nghiệm. Thuật ngữ thực nghiệm đề cập đến một thực tế rằng những cách tiếp cận này ít dựa vào các lư thuyết về sự vận động của thị trường tài chính mà chỉ đơn thuần dựa vào các trạng thái lặp lại và các liên hệ trong quá khứ của dữ liệu thị trường. Trong các cách tiếp cận này nhà nghiên cứu định rơ những tham số hay các đặc tính liên đới với các chứng khoán rồi khảo sát trực tiếp dữ liệu nhằm t́m mối liên hệ giữa những đặc tính này và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Đơn cử như có rất nhiều các nghiên cứu đă được thực hiện về mối liên quan giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của công ty và quy mô của nó. Có đúng hay không những công ty nhỏ có tỷ suất lợi kỳ vọng cao hơn những công ty lớn? Những nhà nghiên cứu đă khảo sát các tỷ số tài chính khác nhau như tỷ số giữa giá cổ phần và thu nhập giữ lại, P/E, và tỷ số có quan hệ gần gũi là tỷ số giữa giá trị thị trường và của chứng khoán và giá trị sổ sách của công ty, M/B. Từ đây có thể có một tranh luận rằng những công ty với tỷ số P/E hoặc M/B thấp bị định giá thấp và có thể được kỳ vọng có tỷ suất sinh lợi cao hơn trong trương lai.

 

Nhằm sử dụng các tiếp cận thực nghiệm để xác định tỷ suất sinh lợi kỳ vọng, chúng ta phải ước lượng phương tŕnh sau:

Ri= RF + kP/E (P/E)i + kM/B(M/B)i + ksize(size)p

trong đó là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của công ty i, và các hệ số k là hệ số tương quan mà chúng ta đă ước lượng từ dữ liệu của thị trường, Chú ư rằng đây là một dạng tương tự phương tŕnh trên trong đó các đặc tính của công ty đóng vai tṛ beta và hệ số k trong vai tṛ nhân tố chênh lệch tỷ suất sinh lợi của danh mục.

Khi chúng ta kiểm chứng số liệu , các phương thức tiếp cận tham số tỏ ra vận hành rất tốt. Thật vậy, khi so sánh giữa việc sử dụng các tham số và việc sử dụng beta để dự đoán tỷ suất sinh lợi kỳ vọng các tham số như P/E và M/B tỏ ra hữu hiệu hơn. Có nhiều giải thích khả dĩ cho các kết quả này, và vấn đề vẫn chưa được luận giải hoàn toàn. Những nhà phê b́nh về cách tiếp cận thực nghiệm rất thận trọng đối với cái mà họ gọi là sự đào bới dữ liệu.

 

 Những tham số mà nhà nghiên cứu sử dụng thường được chọn bởi v́ chúng đă được biết có liên quan đến tỷ suất sinh lợi. Chúng ta thấy rằng bất kỳ những mối liên hệ nào như vậy là do ngẫu nhiên nhưng nếu bạn t́m kiếm đủ lâu và có đủ các chọn lựa bạn có thể t́m thấy cái mà thậm chí như không phải như vậy. Nó cũng khá giống với việc nh́n lên các đám mây. Sau một lúc bạn sẽ thấy các đám mây trông giống bất kỳ thứ ǵ bạn muốn như anh hề, gấu, hay bất kỳ thứ ǵ, nhưng tất cả những ǵ bạn đang làm là gọi là đào bới dữ liệu. Không cần phải nói những nhà nghiên cứu các vấn đề trên bảo vệ công việc của họ bằng tranh luận rằng họ không hề đào bới dữ liệu và họ đă rất cẩn thận tránh những cạm bẫy qua việc chúi mũi vào dữ liệu để xem việc ǵ sẽ xảy ra.

 

Dĩ nhiên, như là một vấn đề về lư thuyết thuần túy, v́ bất kỳ ai trên thị trường có thể dễ dàng truy t́m được tỷ số P/E của các công ty, anh ta chắc chắn sẽ không mong đợi những công ty với P/E thấp hoạt động tốt hơn những công ty có tỷ số này cao đơn giản chỉ v́ các công ty này bị định giá thấp. Trong một thị trường hoàn hảo, những tính toán của công chúng về định giá thấp sẽ nhanh chóng bị phá vỡ và không trong mong có thể tồn tại.

 

Có lẽ giải pháp tốt hơn cho sự thành công của phương thức tiếp cận thực nghiệm nằm ở sự tổng hợp giữa các cách tiếp cận dựa vào rủi ro và bản thân phương thức thực nghiệm. Trong thị trường hoàn hảo, rủi ro và tỷ suất sinh lợi có liên hệ với nhau, do có thể các tham số hoặc những đặc tính thể hiện liên quan đến tỷ suất sinh lợi cũng đồng thời là công cụ đo lường rủi ro tốt hơn. Ví dụ, nếu giả sử chúng ta t́m thấy rằng các công ty với P/E thấp lại hoạt động tốt hơn các công ty có P/E cao và điều này thậm chí đúng cho các công ty có cùng beta, th́ chúng ta có thể có ít nhất hai cách giải thích. Một là, chúng ta có thể đơn thuần vứt bỏ các lư thuyết dựa trên rủi ro v́ chúng không đúng. Hơn nữa chúng ta có thể tranh luận rằng các thị trường không hoàn hảo và mua cổ phiếu của công ty có P/E thấp cho chúng ta cơ hội kiếm lời nhiều hơn tỷ suất sinh lợi dự kiến. Hai là, ta có thể tranh luận rằng cả hai cách nh́n đều đúng và P/E thật sự chỉ là cách tốt hơn để đo lường rủi ro hệ thống hơn là ước lượng beta trực tiếp từ dữ liệu.

Các kiểu danh mục

 

Các đặc tính của cổ phiếu ngoài việc được sử dụng làm nền tảng cho việc ước lượng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng chúng c̣n được sử dụng rộng răi như là một cách mô tả phong cách quản lư vốn đầu tư. Ví dụ một danh mục có tỷ số P/E vượt mức trung b́nh của thị trường có thể được mô tả như danh mục P/E cao hay danh mục cổ phiếu tăng trưởng. Tương tự, một danh mục được h́nh thành với P/E trung b́nh thấp hơn nhiều so với P/E của một chỉ số thị trường có thể được coi là danh mục P/E thấp hay danh mục có giá.

 

Để đánh giá một nhà quản lư danh mục làm việc tốt ra sao, thường hiệu quả của anh ta được so sánh với kết quả của vài chỉ số cơ bản. Ví dụ tỷ suất sinh lợi danh mục của một nhà quản lư mua cổ phiếu mệnh giá lớn của các công ty Mỹ có thể được so sánh với chỉ số S&P 500. Trong trường hợp này chỉ số S&P 500 được xem là cột mốc so sánh với những hiệu quả đă được tính toán. Tương tự như vậy hiệu quả của một nhà quản lư quốc tế có thể được so sánh với chỉ số của các cổ phiếu quốc tế. Trong việc chọn lựa mốc so sánh thích hợp cần thận trọng xác định cột mốc so sánh chỉ chứa đựng những loại cổ phiếu mà nhà quản lư hướng đến như là đại diện cho phong cách của anh ta và có sẵn để mua. Một nhà quản lư đă được bảo rằng không mua bất kỳ chứng khoán nào có trong chỉ số S&P 500 th́ không có lư do ǵ bị so sánh với chỉ số này.

 

Hơn nữa các nhà quản lư không chỉ bị so sánh với chỉ số mà c̣n với những nhóm các nhà quản lư tương đương. Hiệu quả của một quỹ đầu tư như đă quảng cáo là một quỹ tăng trưởng có thể được so sánh với hiệu quả của một mẫu lớn các quỹ tương tự. Đơn cử như hiệu quả trong một giai đoạn thường được phân chia thành bốn nhóm. Các quỹ thuộc nhóm 25% trên cùng ở trong phần tư thứ nhất, 25% kế tiếp nằm ở phần tư thứ hai, 25% kế đến nằm ở phần tư thứ ba, và nhóm các quỹ có hiệu quả kém nhất nằm ở phần tư cuối cùng. Nếu một quỹ được xem xét có hiệu quả nằm trong nhóm phần tư thứ hai th́ ta gọi nhà quản lư đó là nhà quản lư cấp phần tư thứ hai.Cũng giống như vậy, chúng ta gọi một quỹ mua cổ phiếu có M/B thấp là quỹ có giá và sẽ so sánh hiệu quả của nó với mẫu các quỹ có giá tương đương. Các cách tiếp cận này về việc đo lường hiệu quả là tương đối mới, và chúng là một phần của những cố gắng tích cực và thú vị nhằm tinh lọc khả năng xác định và sử dụng các kỹ năng đầu tư của chúng ta.

 

 

 

 


 

KINH NGHIỆM CHƠI CHỨNG KHOÁN

Cẩm nang cho nhà đầu tư mới vào nghề

Trên thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu (CP) xuất phát từ nhưng mẹo do bạn bè mách bảo, các cú điện thoại của nhà môi giới hay nhưng đề xuất của một nhà phân tích nào đó. Họ thường mua CP khi thị trường đang trong giai doạn nóng bỏng, đến lúc thị trường trở lạnh, họ rất dễ hoảng loạn, bán tháo số CP nắm giữ để rồi hứng chịu một khoản thua lỗ. Đó là câu chuyện rất điển h́nh về những nhà đầu tư mới vào nghề.

 

Đầu tư chứng khoán về cơ bản là một quá tŕnh bao gồm 4 bước như sau:

 

Bước 1: Chọn lựa CP

 

Bước đầu tiên trong việc chọn lựa một CP là bắt đầu theo dơi diễn biến các CP. Đặt một CP vào danh sách theo dơi (Watch list) sẽ làm tăng sự chú ư của bạn đối với CP đó. Thật hiếm khi bạn t́m được một CP nào đó rồi mua ngay tức th́. Một danh sách quan sát là mấu chốt để lựa chọn CP thành công.

 

Nếu bạn theo trường phái phân tích kỹ thuật, th́ khi đó diễn biến giá CP là lư do chính của việc lựa chọn một CP đó để theo dơi.

 

C̣n nếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản, th́ tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lư do chính để bạn quan tâm đến CP này. Một khi CP đă nằm trong danh sách theo dơi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của CP đó với diễn tiến giá cả của các CP khác. Bạn cũng có thể t́m thấy các thông tin khác liên quan đến CP đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định.

 

Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật có thể quan tâm đến việc t́m kiếm các thông tin có tính kỹ thuật về CP. Liệu CP có diễn biến giá cả giống như trong quá khứ không? Xu hướng giá CP trong 13 tuần, 26 tuần hay 52 tuần gần đây nhất là đi lên hay đi xuống? So với lúc bắt đầu được đưa vào danh sách, CP đó tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?

 

Nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản sẽ t́m kiếm tin tức, các bản bảo cáo thu nhập, báo cáo ngành hay báo cáo của nhà phân tích nhằm t́m kiếm thông tin. Tuy nhiên, khi chọn lựa CP để theo dơi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu CP đó có đáng được theo dơi hay không.

 

May mắn lắm bạn cũng chỉ chọn được 2 đến 3 CP tốt trong số 10 lần chọn. Bởi vậy, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy các CP giảm giá sẽ chiếm đa số trong danh sách theo dơi. Cần lưu ư rằng, chỉ nên đưa những CP tốt nhất trong danh sách theo dơi vào danh mục đầu tư của bạn.

 

Bước 2: Chấp nhận vị thế

 

Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, bạn chỉ cần liên hệ với nhà môi giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ư một số điều. Trước tiên là loại giao dịch mà bạn thực hiện: đoản hay trường (short or long). Mặc dù xu hướng chung của giá CP là di lên nhưng bất kỳ ai dă từng mắc phải một vị thế thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn CP có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nh́n chung, bạn nên tránh nhưng vị thế đoản (vị thế bán non). Chúng ngốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho vị thế đoản lại rất hiếm hoi. Nếu bạn thực hiện vị thế đoản, bạn cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế trường.

 

Kế đến là việc chọn lựa nhà môi giới. Nếu bạn là một nhà đầu tư tư nhân bạn có lẽ chỉ cần đến một nhà môi giới phần dịch vụ (discount broker). Đây là nhà môi giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng.

 

Bước 3: Giám sát vị thế

 

Giám sát các vị thế đă thực hiện là phần quan trọng nhất của quá tŕnh đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đưa bạn đến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dơi và đánh giá quyết dịnh đầu tư của ḿnh. Khi vị thế đó nằm ở vị trí bấp bênh giữa lỗ và lăi, bạn cần phải hết sức chú ư đến những vị thế này. Khi CP mà bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng, đó là CP tốt th́ bạn nên tính đến chuyện mua thêm CP này. Nếu CP mà bạn chọn giảm giá liên tục bạn cũng nên cân nhắc bán đi CP đó nhằm hạn chế thua lỗ.

 

Bước 4: Kết thúc vị thế

 

Nhà đầu tư thường bán CP khi giá CP đạt đến mức giá mục tiêu (target price) hay CP không diễn biến theo như mong đợi của anh ta. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán như thế nào để kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông thường, bạn nên bán CP khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể, chắng hạn như, thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhiều năm liền, thị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt hay nội bộ ban giám đốc luôn lục đục...

 

 

Nên quan tâm đến ǵ trước khi đầu tư?

“Tôi đă đầu tư vào hàng ngh́n công ty khác nhau trên thị trường chứng khoán. Thành công không bao giờ đến từ những điều thần kỳ hay sự nỗ lực ít ỏi. Luôn có một công thức hướng tới lợi nhuận. Điều quan trọng là bạn cần biết nh́n vào đâu trước mỗi quyết định đầu tư”. Đó là nhận định của Doug Richard, một trong những nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên thế giới.

 

Năm 2004, Doug Richard đă được tạp chí BBC bầu chọn là nhà đầu tư có cái nh́n sắc sảo nhất trong giới đầu tư chứng khoán Anh. Những khoản đầu tư cổ phiếu trái phiếu của Doug luôn có tỷ lệ sinh lời trên 20%. Mặc dù lựa chọn phương thức đầu tư mạo hiểm nhưng dường như chưa bao giờ Doug phải đương đầu với thua lỗ. Nhiều người băn khoăn tự hỏi: Đâu là “người bảo vệ” cho những khoản đầu tư mạo hiểm của Doug Richard?

 

Sự thật rất đơn giản! Doug Richard dành khá nhiều thời gian phân tích kỹ lưỡng trong giai đoạn tiền đầu tư. Với Doug, luôn có 5 nhân tố then chốt cần phải quan tâm trước khi đầu tư tiền bạc vào một loại cổ phiếu nào đó:

 

1. Đảm bảo an toàn vốn

 

Để kế hoạch đầu tư không đương đầu với rủi ro lớn, điều đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm là đảm bảo đồng vốn của ḿnh được an toàn, không bị giảm sút. Các nhà đầu tư nên xây dựng danh mục đầu tư đa đạng. Đầu tư đôi khi cũng có nhầm lẫn, sự nhầm lẫn này có thể làm các nhà đầu tư phá sản. V́ vậy khi đầu tư chứng khoán nên tránh tập trung vào một loại chứng khoán mà cần chia ra nhiều loại chứng khoán khác nhau, tức là phân tán rủi ro. Mọi người biết rằng những công ty lớn nhất trên thị trường cũng có thể phá sản, v́ vậy một danh mục đầu tư càng đa dạng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, những “cổ phiếu thắng cuộc” sẽ bù đắp cho những “cổ phiếu thua cuộc”. Nếu số tiền ít th́ nên mua chứng khoán của công ty mà chúng ta đang làm việc, gia nhập các hội đầu tư hoặc là mua cổ phiếu của các Quỹ hỗ tương.

 

Không chỉ có vậy, giá cổ phiếu tăng liên tục trong một thời gian nhất định sẽ mang lại cho các nhà đầu tư những khoản lời lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chính sự tăng giá này đă đẩy giá các loại cổ phiếu lên mức giá quá cao. Vậy nên mua vào hay bán ra cổ phiếu nào vào thời điểm này? “Không nên tham quá khi cố găm giữ cổ phiếu để chờ nó tăng giá cao hơn nữa. Cái quan trọng là phải biết khi nào nó chuẩn bị mất giá để kịp thời bán ra, chứ để khi giá đă xuống thấp th́ cho dù có muốn bán cũng chẳng có ai mua”, Doug cho biết.

 

2. Sự đổi mới và cách tân

 

Sự đổi mới không chỉ đơn thuần là những phát minh sáng chế. Nó có thể là những cách thức mới để tiến hành các hoạt động kinh doanh cũ. Một công ty nhiệt huyết với sự đổi mới th́ cổ phiếu của những công ty đó sẽ hứa hẹn tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Trong khi, một công ty quá bảo thủ với những phương thức truyền thống th́ cổ phiếu của công ty đó cũng trở nên tŕ trệ và kém năng động.

 

Điều quan trọng để chiến lược đầu tư được thành công là việc nắm bắt rơ tính năng động của cổ phiếu. Do đó, các nhà đầu tư nên t́m hiểu xem công ty mà ḿnh dự định đầu tư có thực sự hướng đến những phương pháp kinh doanh mới khi gặp khó khăn hay không.

 

3. T́nh h́nh nhân sự

 

“Hoạt động kinh doanh đều do con người thực hiện. Do vậy, việc nắm bắt t́nh h́nh nhân sự của công ty mà bạn dự định đầu tư là rất cần thiết”, Doug nói. Theo ông, việc t́m hiểu t́nh h́nh nhân sự không phải là công việc quá khó khăn. Không ai có tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm và danh tiếng để điều hành các hoạt động kinh doanh, điều quan trọng chính là ở chỗ họ có nhiệt huyết với công việc hay không. 

 

“Khi tôi nh́n vào t́nh h́nh nhân sự, tôi muốn thấy sự nỗ lực công việc của các nhân viên trong công ty mà tôi dự định đầu tư”, Dough nói, “Một công ty có t́nh h́nh nhân sự không ổn định, thường xuyên thay đổi nhân viên không phải là một công ty tốt để đầu tư”. 

 

Hơn thế nữa, với Doug, t́nh h́nh nhân sự cũng là yếu tố quyết định để bán cổ phiếu. Nếu những nhà quản lư hàng đầu của công ty (những người chịu trách nhiệm về sự thành công của công ty) bắt đầu rời bỏ công ty th́ có thể xem đó là dấu hiệu bất lợi cho tương lai của công ty. Khi đó cần phải theo dơi và phát hiện xem tại sao lại có những thay đổi như vậy. Đặc biệt, khi phát hiện ra những dấu hiệu cho thấy công ty đang trở nên suy yếu trong lĩnh vực kinh doanh chính th́ tốt nhất nên bán cổ phiếu của công ty đó đi và thay vào đó là t́m mua cổ phiếu của công ty khác trong cùng lĩnh vực đó nhưng mạnh hơn và có Ban quản trị ổn định hơn.

 

4. Bản cáo bạch

 

Bản cáo bạch luôn được xem như một tài liệu then chốt. Đối các nhà đầu tư, Bản báo bạch là phương tiện giúp họ đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết định thiếu thông tin có thể làm các nhà đầu tư phải trả giá đắt.

 

Bởi vậy, các nhà đầu tư nên đọc Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng và t́m hiểu rơ những may rủi thực sự của công ty trước khi ra quyết định đầu tư. Nên đánh giá cẩn thận những yếu tố cơ bản của công ty dự định đầu tư thông qua việc nghiên cứu các thông tin trong Bản cáo bạch. Mặc dù những đợt chào bán lần đầu ra công chúng dường như là cơ hội đầu tư tốt v́ chúng thường mang lại lợi nhuận ban đầu cao, tức là tiền chênh lệch, do cổ phiếu tăng giá; nhưng rủi ro vẫn tồn tại và không có ǵ bảo đảm là sẽ thu được tiền chênh lệch hoặc tiền chênh lệch sẽ được như mức mà bạn trông đợi.

 

 “Tôi luôn bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty. Trong quá tŕnh thực hiện, tôi tự đặt ra cho ḿnh một số mục đích quan trọng như t́m hiểu xem việc kinh doanh của công ty có tiến triển hay không, lợi nhuận trung b́nh như thế nào, nợ nần ra sao,... Doanh thu tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng. Nhưng các con số chưa phải là nói lên tất cả. Do vậy, sẽ rất cần thiết khi nghiên cứu Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng để t́m ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty”, Doug nói.

 

Các nhà đầu tư cũng nên t́m hiểu về các sản phẩm công ty kinh doanh, khách hàng của công ty, đặt ra câu hỏi liệu các sản phẩm này có tiếp tục bán được nữa không. Các thông tin chính về các vấn đề này nằm trong các phần khác nhau của Bản cáo bạch.

 

5. Kế hoạch kinh doanh

 

“Nếu công ty mà bạn dự định đầu tư không có những kế hoạch kinh doanh tốt th́ triển vọng lợi nhuận của cổ phiếu gần như bằng không. Bạn đừng mắc phải sai lầm này, kinh doanh là một cuộc chiến. Để kiếm lời từ cổ phiếu bạn cần hiểu cổ phiếu đó đang làm những ǵ và có kế hoạch như thế nào”, Doug nói.

 

Tất cả các hoạt động kinh doanh đều có những kế hoạch và mục tiêu. Kế hoạch kinh doanh sẽ tạo ra những trọng điểm mà công ty cần tập trung vào. Các nhà đầu tư không thể bỏ qua việc nghiên cứu các kế hoạch kinh doanh nếu muốn có được những khoản đầu tư sinh lời.

 

Việc t́m hiểu kế hoạch kinh doanh của các công ty không quá dễ nhưng cũng không quá khó. Các nhà đầu tư có thể t́m hiểu từ chính những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của công ty đó. Họ là những người am hiểu về cổ phiếu này hơn ai hết.

 

Tạp chí BBC đă có một cuộc phỏng vấn ngắn với Doug Richard về công việc đầu tư chứng khoán của ông:

 

BBC: Giới đầu tư chứng khoán đồn rằng, khi bắt đầu, mới "chơi" cổ phiếu có hơn 5 tháng mà ông lăi cả triệu bảng Anh?

 

Doug Richard: Tôi không tranh căi chuyện thiên hạ đồn đại về ḿnh, bạn bè vẫn quen gọi tôi là "trùm cổ phiếu". Điều mà tôi cảm thấy yên tâm và hài ḷng sau một thời gian tham gia đầu tư cổ phiếu là đă chọn đúng nhà môi giới. Tôi cho rằng, từ cơ sở hạ tầng đến đội ngũ nhân viên môi giới của Công ty môi giới Nicleway, nơi tôi đang mở tài khoản là đáng tin cậy.

 

BBC: Cơ sở nào tạo cho ông sự tin cậy này?

 

Doug Richard: Theo đánh giá của tôi, ở Nicleway khả năng của nhà môi giới là vượt trội. Điều này thể hiện qua cách trả lời chính xác, dễ hiểu, mức độ tinh thông nghiệp vụ, tính trung thực, tinh thần phục vụ và tính bảo mật khách hàng của đội ngũ nhân viên làm việc ở đây. Nhờ vậy, khả năng truyền thông giữa các nhân viên môi giới tại sàn của công ty chứng khoán và tại Sở Giao dịch chứng khoán thường rất nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra, Nicleway c̣n có những dịch vụ hỗ trợ khác như có thể cho khách hàng thế chấp chứng khoán ở ngân hàng mẹ để vay tiền mua chứng khoán hoặc để làm việc khác...

 

BBC: Có phải ông gián tiếp cho rằng trong đầu tư chứng khoán th́ điều đầu tiên cần quan tâm là việc chọn công ty chứng khoán?

 

Doug Richard: Điều này đă từng được các chuyên gia về chứng khoán khuyến cáo. Thực tế trong thời gian qua lời khuyên này là hoàn toàn chính xác. Có thể thấy, trong điều kiện đặt lệnh giao dịch qua nhân viên môi giới tại các công ty chứng khoán như hiện nay, khả năng xử lư lệnh nhanh nhạy của nhân viên môi giới là hết sức quan trọng, bởi v́ nếu bạn đặt lệnh cùng với giá của người khác mà nhân viên môi giới lại nhập lệnh chậm hơn đối thủ cạnh tranh th́ bạn đă mất quyền ưu tiên và khả năng lệnh của bạn được thực hiện rơ ràng nhỏ hơn người kia.

 

BBC: Việc chọn đúng nhà môi giới là một lợi thế nhưng để mua hoặc bán được cổ phiếu ở mức giá vừa ư lại do nhà đầu tư quyết định. Với kinh nghiệm của ḿnh, ông có thể "bật mí" một vài bí quyết?

 

Doug Richard: Phương pháp mà tôi sử dụng để xây dựng "danh mục đầu tư” của ḿnh là dựa vào những nhận định của bản thân. Nhận định này được tính theo mức lợi tức kỳ vọng cho mỗi giả định đầu tư của ḿnh và so sánh chúng với nhau để t́m ra danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán (tức là danh mục có kỳ vọng cao nhất).

 

Tôi cho rằng, phương pháp tính lợi tức kỳ vọng này phụ thuộc chủ yếu vào đánh giá chủ quan của mỗi nhà đầu tư dựa trên các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp hàng tháng, hàng tuần, thậm chí hàng ngày. Việc đánh giá xác suất và tỷ lệ lợi nhuận được chia tuy cùng dựa trên cơ sở thực tế là bản cáo bạch, báo cáo về việc phân chia cổ tức, thông tin đại chúng, thông tin không chính thức mà nhà kinh doanh thu thập được nhưng người nào có nhiều thông tin chính xác và có khả năng dự đoán tốt hơn sẽ có nhiều cơ hội thành công. Điều này đ̣i hỏi người tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải luôn động năo, cần khả năng tư duy, thậm chí đ̣i hỏi họ cả ư chí và bản lĩnh.

 

BBC: Nhà đầu tư có nên một lúc đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu?

 

Doug Richard: Có một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh chứng khoán là đừng bao giờ "bỏ tất cả trứng vào một rổ". Tuy vậy, việc đầu tư dàn trải vào quá nhiều danh mục đầu tư cũng có thể không mang lại hiệu quả mong đợi. Người đầu tư vừa mất sức lực lại vừa không kiểm soát được đối tượng đầu tư của ḿnh. Theo tôi, nhà đầu tư nên t́m hiểu nhiều loại chứng khoán nhưng chỉ nên đầu tư vào một số loại chứng khoán mà họ tin tưởng nhất.

BBC: Lời khuyên nào với các nhà đầu tư chứng khoán mới vào nghề?

Doug Richard: Trong mua bán chứng khoán, điều quan trọng là nhà đầu tư phải biết tự bảo vệ ḿnh và đưa ra những phương pháp đầu tư phù hợp nhất với từng loại chứng khoán.. Một số biện pháp an toàn cơ bản mà các chuyên gia chứng khoán đă khuyến cáo có thể được tham khảo như hăy cảnh giác với những tin đồn, những người bán đang gây sức ép buộc ḿnh phải hành động tức thời hoặc những sự bảo đảm hay lời hứa về lợi nhuận nhanh chóng; phải chắc chắn hiểu rơ về sự mạo hiểm, rủi ro phát sinh trong mua bán chứng khoán. Ngoài ra cũng cần hiểu bản chất của thị trường chứng khoán là luôn biến động, điều quan trọng mà các nhà đầu tư nên nhớ là thành công trước đây không phải là sự bảo đảm cho thành công trong tương lai đối với một phi vụ đầu tư.

 

BBC: Xin cảm ơn ông!

 

Được mệnh danh là một nhà đầu tư được coi là "có máu mặt" tại Anh, kinh nghiệm và những lời khuyên của Doug Richard chắc chắn sẽ rất hữu ích trong thời buổi thị trường có nhiều biến động như hiện nay, đặc biệt là đối với những nhà đầu tư mới vào nghề. Để rồi, “chính sự cẩn trọng và nhanh chóng nắm bắt kinh nghiệm đầu tư chứng khoán sẽ đưa đến bí quyết thành công trên thị trường chứng khoán”, Doug Richard nhận định.

 

 

Những nhân vật không thể thiếu trên thị trường chứng khoán

Trải qua hàng trăm năm lịch sử h́nh thành, thị trường chứng khoán đến nay vẫn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định là một kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế. Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu về sự đa dạng trong các hoạt động đầu t¬ư, đến nay nhiều loại thị trường đă ra đời với các h́nh thức tổ chức thị trường từ đơn giản (thị trường chứng khoán phi tập trung) đến hiện đại và hết sức chặt chẽ (thị trường chứng khoán tập trung).

 

Thị trường chứng khoán không thể thiếu những thành viên hoạt động của ḿnh. Khi đề cập đến các h́nh thức tổ chức thị trường không thể không nhắc đến vai tṛ của các chuyên gia và các nhà tạo tập thị trường trong việc tạo lập sự công bằng, hiệu quả và trật tự trên mỗi thị trường này.

 

Vai tṛ của chuyên gia chứng khoán trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung.

 

Mục tiêu của các Sở giao dịch là tạo lập một môi trường giao dịch chứng khoán (chứng khoán) an toàn và hiệu quả, trong đó các nhà đầu tư phải được đối xử công bằng, được cung cấp thông tin tương xứng nhằm hỗ trợ kịp thời cho các quyết định đầu tư¬.

 

Trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung, chuyên gia chứng khoán là những người hoạt động chuyên môn nhằm duy tŕ sự công bằng, cạnh tranh và hiệu quả về một loại chứng khoán đă niêm yết. Ngoài ra, các chuyên gia c̣n là sự kết nối giữa các nhà môi giới với các lệnh đặt mua và bán trên thị trường chứng khoán, hỗ trợ cho các giao dịch được thực hiện an toàn và hiệu quả.

 

Một giao dịch được thực hiện khi giá cả đă hợp lư, để đạt được mức giá hợp lư th́ các lệnh đều phải chuyển qua các chuyên gia phụ trách. Vai tṛ của các chuyên gia được thể hiện qua các hoạt động sau:

 

- Vai tṛ là đại lư của các nhà môi giới: Công việc của chuyên gia là thực hiện lệnh cho các nhà môi giới đối với loại chứng khoán mà họ phụ trách. Nếu một khách hàng tiến hành đặt lệnh thông qua nhà môi giới, trong trường hợp lệnh giới hạn không thể thực hiện được, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này sang các chuyên gia, các chuyên gia sẽ trở thành người đại diện cho nhà môi giới đối với lệnh đó tại sàn giao dịch.

 

- Vai tṛ là nhà đấu giá: Trong toàn bộ phiên giao dịch, các chuyên gia sẽ đ¬ưa ra một mức giá chào mua - chào bán tốt nhất, trên cơ sở đó đến đầu mỗi phiên giao dịch họ thiết lập một mức giá giao dịch hợp lư đối với từng loại chứng khoán trên cơ sở cung - cầu về loại chứng khoán đó. Hoạt động này nhằm bảo đảm trật tự thị trường đối với từng loại chứng khoán mà họ phụ trách, đồng thời hạn chế sự dao động về giá cả của chứng khoán đó.

 

- Vai tṛ là nhà kinh doanh: Các chuyên gia thực hiện giao dịch tại một mức giá nằm trong khoảng giá chào mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất. Họ là người chịu trách nhiệm giảm thiểu sự chênh lệch giữa lệnh mua và lệnh bán. Việc mua và bán này được thực hiện theo h¬ướng của thị trường cho đến khi sự chênh lệch được cân bằng trở lại.

Trong trường hợp xảy ra biến cố về lệnh, về giá cả... tại thị trường giao dịch tập trung, vai tṛ của các chuyên gia trở nên rất quan trọng trong việc chủ động điều chỉnh các biến cố về trạng thái cân bằng và ổn định.

 

Vai tṛ của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường phi tập trung.

 

Nhà tạo lập thị trường là người thực hiện chức năng duy tŕ thị trường cho một loại chứng khoán. Chẳng hạn, đối với chứng khoán A là chứng khoán không niêm yết và được mua bán trên thị trường phi tập trung (OTC). Nhà tạo lập thị trường là người đặt ra mức giá bán chứng khoán A cho bên mua với sự thách giá trên cơ sở tương ứng với mức giá mà bên bán (khách hàng của họ) yêu cầu.

 

Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh mua bán chứng khoán A trên thị trường OTC, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này tới nhà kinh doanh (thuộc bộ phận kinh doanh của công ty môi giới). Nhà kinh doanh sẽ t́m kiếm người có thể bán số chứng khoán A (nhà môi giới bên bán). Lúc này, nhà môi giới bên bán đóng vai tṛ là người tạo lập thị trường cho chứng khoán A.

 

Thực tế là có nhiều nhà môi giới sẵn sàng bán chứng khoán A và như vậy sẽ có rất nhiều nhà tạo lập thị trường đối với chứng khoán A tương đư¬ơng với các mức "thách giá" khác nhau. Nhà kinh doanh bắt đầu tiến hành th¬ương l¬ượng về giá cả của chứng khoán A với các nhà tạo lập thị trường để có thể đạt được mức giá tối ư¬u. Giao dịch sẽ được thực hiện khi nhà kinh doanh t́m được nhà tạo lập thị trường bán số chứng khoán A với mức giá thấp nhất.

 

Thông th¬ường các nhà tạo lập thị trường là những nhà môi giới đă được đăng kư. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà môi giới đă đăng kư đều là những nhà tạo lập thị trường. Để có thể trở thành một nhà tạo lập thị trường th́ người môi giới phải thực sự quan tâm đến việc tạo dựng thị trường cho một loại chứng khoán.

 

Vai tṛ của các nhà tạo lập thị trường được thể hiện thông qua các hoạt động sau:

 

- Duy tŕ tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi chứng khoán đó được phát hành ra thị trường.

- Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán có thể sinh lời do sự cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau đối với cùng loại chứng khoán đó.

- Thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán không niêm yết trên thị trường.

- Tăng tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi tăng số l¬ợng các nhà tạo lập thị trường.

 

Các chuyên gia cũng có thể trở thành "nhà tạo lập thị trường" đối với một loại chứng khoán cụ thể trong điều kiện phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ. Sự kiểm soát này sẽ hạn chế được các sai phạm nếu họ lạm dụng quyền hành độc quyền của ḿnh tại Sở giao dịch.

 

Bên cạnh đó, các nhà tạo lập thị trường có xu hư¬ớng cạnh tranh với nhau do luôn có nhiều nhà tạo lập thị trường đối với một chứng khoán, do đó thị trường OTC được đánh giá là có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.

 

Cả chuyên gia chứng khoán và nhà tạo lập thị trường đều được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do họ thư¬ờng xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, v́ vậy họ có nhiều khả năng bị "ṛ rỉ" thông tin khi có sự biến động thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện kinh doanh cho chính họ nhằm thu lợi nhuận. Đó cũng chính là lư do tại sao những đối t¬ượng này bị kiểm soát chặt chẽ. Một yêu cầu khác nữa là họ phải công bằng với tất cả các nhà đầu tư¬, không được phép thiên vị bất cứ bên nào.

 

Ngày nay, trên thế giới có nhiều loại thị trường mới ra đời như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường tương lai, thị trường quyền chọn... cùng với sự hỗ trợ của các phương thức giao dịch đa dạng đă không ngừng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thị trường chứng khoán, góp phần vào sự công bằng, hiệu quả và trật tự đối với các giao dịch tại các thị trường này... V́ vậy vai tṛ của các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường là luôn được khẳng định.

 

 

Cẩn trọng khi giao dịch với các Công ty chứng khoán

Hiện tại, cách tiếp cận dễ nhất của nhà đầu tư với thị trường chứng khoán là qua các công ty chứng khoán. Tại các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới, các h́nh thức đầu tư chứng khoán cũng đă "xâm nhập" vào tư duy của mọi người. Trên những thị trường này, có thể thấy lượng khách hàng đến các công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch nói riêng hay lượng người quan tâm đến chứng khoán nói chung ngày một tăng

 

Các công ty chứng khoán được làm đại lư phát hành chứng khoán niêm yết hoặc không cho các tổ chức phát hành. Ngoài ra, những đơn vị này được thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ tài chính khác phù hợp.

 

Khi tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng, các công ty này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của ḿnh và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng nếu vi phạm các cam kết. Trong trường hợp thực hiện tư vấn cho doanh nghiệp trong việc niêm yết chứng khoán, các công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều công ty chứng khoán lợi dụng những khe hở của pháp luật để tiến hành các hành vi tiêu cực mà nếu không cẩn thận các nhà đầu tư rất dễ gặp rủi ro.

 

1. Tư vấn v́ lợi ích cá nhân của các công ty chứng khoán:

 

Do ư đồ cá nhân, công ty chứng khoán có thể sẽ tư vấn đầu tư không phù hợp với nhu cầu, khản năng tài chính và mục tiêu của khách hàng. Do đó, khách hàng cần nhận thức rằng, ḿnh muốn được hướng dẫn đầu tư phù hợp với bản thân ḿnh chứ không phải phù hợp với người môi giới. Mỗi khoản đầu tư được tư vấn đều cần có lời giải thích cặn kẽ, gồm cả việc khuyến cáo các rủi ro.

 

2. Vi phạm quy định giao dịch công bằng:

 

Các hoạt động sau đây của các công ty chứng khoán bị xem là vi phạm những quy định liên quan đến giao dịch công bằng:

 

+ Đề nghị thực hiện việc đầu cơ chứng khoán mà không xem xét t́nh h́nh tài chính của khách hàng và đảm bảo khách hàng không chịu rủi ro.

+ Mở tài khoản khống chế thực hiện việc kinh doanh chứng khoán trái phép.

+ Thực hiện các giao dịch ngoài thẩm quyền được giao.

+ Đề nghị mua chứng khoán không thích hợp với khả năng chi trả của khách hàng.

+ Các hoạt động lừa đảo (chẳng hạn như giải mạo và cung cấp không đầy đủ hoặc không cung cấp số liệu thực tế).

 

3. Giao dịch thái quá:

 

Hành vi giao dịch thái quá có nghĩa là giao dịch thường xuyên và với số lượng lớn trên tài khoản của khách hàng nhằm mục đích nhận hoa hồng mà không nhằm đạt được các mục tiêu khách hàng đă đề ra. Đây là hành vi lạm dụng trách nhiệm uỷ quyền của khách hàng.

 

Một trong những biện pháp để ngăn chặn hành vi lạm dụng này là nhà đầu cần phải yêu cầu rất cả tài khoản mà ḿnh uỷ quyền cho công ty chứng khoán phải được giám sát viên của công ty chứng khoán xem xét thường xuyên.

 

4. Vay và cho vay tiền và chứng khoán:

 

+ Vay tiền và vay chứng khoán của khách hàng: Các công ty chứng khoán bị cấm vay tiền hay chứng khoán từ khách hàng trừ phi khách hàng là ngân hàng hay các tổ chức tài chính có chức nằn thực hiện việc cho vay tiền và chứng khoán.

+ Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các công ty chứng khoán cũng bị cấm cho khách hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệ vụ thông thường.

 

5. Xuyên tạc:

 

Các công ty chứng khoán có thể xuyên tạc, nói không đúng về bản thân hay về các dịch vụ của công ty ḿnh đối với khách hàng tiềm năng. Do đó, theo quy định, Công ty chứng khoán không được phép xuyên tạc về:

 

- Tŕnh độ, kinh nghiệm và học vấn.

- Loại h́nh dịch vụ phục vụ khách hàng.

- Các loại phí.

 

Việc công bố không chính xác hay không công bố các sự kiện quan trọng liên quan đến những vấn đề trên cũng bị coi là xuyên tạc. Khách hàng sẽ phải khó khăn khi so sánh chất lượng dịch vụ giữa các công ty chứng khoán nếu khách hàng không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác liên quan đến vấn đề chuyên môn.

 

6. Sử dụng các báo cáo, công tŕnh nghiên cứu của công ty hoặc cá nhân khách:

 

Công ty chứng khoán không được phép sử dụng các nghiên cứu phân tích hay đề nghị do cá nhân hay công ty khác tiến hành mà không công bố rằng, các báo cáo này không phải do chính họ thực hiện. Công ty chứng khoán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các báo cáo hay phân tích của người khác nhưng không được tự nhận rằng, các báo cáo, nghiên cứu đó là của ḿnh.

 

Có thể nói, nhà đầu tư đến bất kỳ Công ty chứng khoán nào cũng đều dễ dàng được tiếp cận với những thông tin thị trường, những lời khuyên của nhà môi giới, hoặc tư vấn của các chuyên gia... Đó là tại những thị trường lâu đời như phố Wall, Nhật Bản, Hồng Kông. Tuy nhiên, tại những thị trường chứng khoán c̣n rất mới và sơ khai như thị trường Việt Nam, các chủ thể hoạt động trên thị trường vẫn trong giai đoạn vừa làm vừa bổ sung và củng cố nên nhà đầu tư chưa thể có cơ sở để đặt niềm tin tuyệt đối vào bất kỳ một định chế tài chính nào.

 

Nhà đầu tư cần ư thức rằng dù có biết được một tin tức tốt lành đến đâu đi nữa th́ quyết định mua hay bán vẫn cần cân nhắc kỹ bởi mua chứng khoán là mua bằng tiền của chính ḿnh, được hay mất đều tác động trực tiếp đến ngân sách của nhà đầu tư. Đặc biệt cần thận trọng với trào lưu thị trường v́ trong trào lưu thị trường hiện tại, nhà đầu tư bỏ tiền mua chứng khoán nh́n chung vẫn theo xu hướng kỳ vọng giá lên chứ không mấy ai có những phân tích sát thực t́nh h́nh hoạt động của công ty niêm yết để t́m ra một mức giá hợp lư.

 

Nhiều chuyên gia chứng khoán cho rằng rất khó dự đoán xu thế biến chuyển của giá chứng khoán v́ hai nguyên nhân:

 

Thứ nhất, các thông tin về công ty niêm yết chưa thực sự được công bố thường xuyên và đầy đủ.

Thứ hai, do h́nh thức đầu tư chứng khoán c̣n rất mới mẻ đối với công chúng nên việc quyết định mua, bán chứng khoán của nhiều nhà đầu tư vẫn mang tính tự phát theo trào lưu, chưa có sự phân tích đánh giá nên không ổn định trong tâm lư đầu tư.

 

Có một vài điều nhà đầu tư cần lưu ư khi giao dịch với các Công ty chứng khoán, cụ thể:

 

- Hăy yêu cầu Công ty chứng khoán cho bạn biết về t́nh h́nh thị trường hiện tại, bạn cũng có thể yêu cầu họ cung cấp các tài liệu về t́nh h́nh của các công ty niêm yết. Hăy quan tâm đến những quy định cơ bản về hoạt động của công ty và thị trường như giới hạn khoản tiền mở tài khoản, mức phí môi giới, biên độ dao động giá...

- Cần thận trọng đối với những nhà tư vấn đầu tư cung cấp thông tin không khớp với các thông tin trong tài liệu. Trong trường hợp có nhiều điểm không giống hăy xin tư vấn dưới dạng văn bản về những gợi ư đầu tư và lư do đầu tư. Điều này sẽ hỗ trợ bạn trong trường hợp phát sinh các vấn đề sau khi bạn được tư vấn.

- Các Công ty chứng khoán hứa hẹn lợi nhuận nhanh chóng và dễ dàng cũng là điều bạn cần cân nhắc Hăy nhớ là điều ǵ quá tốt, quá thuận lợi đều cần phải xem lại. Nên cân nhắc kỹ càng, nếu bạn c̣n băn khoăn điều ǵ hăy t́m lời khuyên của người tư vấn khác.

 

- Đừng để bị thuyết phục dẫn đến những quyết định hấp tấp dựa trên các thông tin "nội gián", thông tin "tuyệt mật", "khả năng hợp nhất" hoặc "bị thâu tóm" hay những tin về "sản phẩm mới hấp dẫn"...

- Khi đầu tư vào chứng khoán, nên hiểu rằng các điều kiện cấp phép do Uỷ ban Chứng khoán

Nhà nước đặt ra là nhằm bảo đảm cho các Công ty chứng khoán, công ty quản lư quỹ cũng như các nhân viên được cấp phép có đủ khả năng hoạt động trong lĩnh vực được cấp phép. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các loại giấy phép do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp sẽ đảm bảo tính trung thực đối với hành vi của người hoặc đơn vị được cấp phép hay chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.

 

 

Bí quyết lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư của bạn

Mới đây, Lane Jack và Peter Huge là hai người bạn lâu năm, họ cùng góp khoản tiền để dành khoảng hơn 200.000 USD để đầu tư vào thị trường chứng khoán nhằm t́m kiếm lợi nhuận. Theo một số nhà môi giới chứng khoán, họ đă đầu tư vào cổ phiếu của hăng Chamber Lych, một công ty công nghệ đang nổi tại miền trung nước Mỹ mà không đầu tư vào một công ty lâu năm cũng trong lĩnh vực công nghệ là TechTech v́ cho rằng công ty đang thất thế.

 

Trong hai tháng đầu tiên đầu tư, cổ phiếu của Lych liên tục tăng giá và cổ phiếu của TechTech th́ hạ giá dần. Nhưng chỉ sau thời gian đó, đột nhiên cổ phiếu của TechTech lại tăng giá rất cao, trong khi cổ phiếu của Chamber lại đứng yên thậm chí có tin đồn là sẽ xuống giá nên không ai dám mua nữa. Kết quả, số tiền của hai người bạn Lane Jack và Peter Huge đă không phát sinh lợi nhuận, thậm chí có nguy cơ mất sạch. Cả Lane Jack và Peter Huge đều tiếc nuối v́ đă không đầu tư vào cổ phiếu của TechTech.

 

Trong đầu tư chứng khoán việc lựa chọn cổ phiếu sẽ là rất quan trọng. Nó sẽ quyết định việc thành bại của cả quá tŕnh đầu tư. Nhiều khi nhà đầu tư không nên nghe theo những ǵ nhà môi giới chứng khoán nói mà hăy dựa vào chính sự phân tích và suy xét của ḿnh.

 

Mua loại cổ phiếu nào

 

Khi đă quyết định đầu tư vào cổ phiếu thường phải nghiên cứu xem loại cổ phiếu nào là hiệu quả nhất. Đây chính là lúc cần những thông tin về phân tích chứng khoán và t́nh h́nh công ty v́ ít có cách nào mất tiền nhanh hơn là mua phải chứng khoán không tốt.

 

Một số tiêu thức để so sánh và lựa chọn:

 

- Chọn ngành cổ phiếu: ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, tài chính hay dịch vụ công cộng... Có thể đi vào nhiều ngành chi tiết hơn, ví dụ trong công nghiệp có thể là công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến hoặc công nghiệp sản xuất. Phân tích từng ngành kinh tế về tính chất, thị trường, khả năng phát triển, tăng trưởng b́nh quân, khả năng cạnh tranh, ảnh hưởng có tính chất chu kỳ;

 

- Chọn bất cứ công ty nào trong ngành nào th́ cũng nên phân tích t́nh h́nh công ty đó trên các mặt: t́nh h́nh tài chính, lợi nhuận, lợi tức cổ phần, nhu cầu vốn, t́nh h́nh huy động vốn và những loại chứng khoán chủ yếu của công ty, đánh giá t́nh h́nh cổ phiếu của công ty về mặt tài chính, vị trí của công ty trong ngành, tŕnh độ ban quản trị, ban điều hành và chính sách quản trị của công ty, địa điểm, vận tải, lao động, nguyên liệu, bằng sáng chế phát minh, v.v...

 

Muốn phân tích thấu đáo giá trị cổ phiếu của một công ty th́ phải xem xét những nhân tố kể trên, đồng thời phải tham khảo sự đánh giá của các Trung tâm phân tích chứng khoán, các tổ chức xếp loại doanh nghiệp. Ngoài ra, cần chú ư đến việc đa dạng hóa cổ phiếu đầu tư để tránh được sự vận động của chu kỳ kinh doanh, sự thay đổi vị trí của một doanh nghiệp... Có thể đa dạng hóa theo nhiều cách nh¬: mua cổ phiếu của nhiều ngành khác nhau; mua cổ phiếu của các công ty khác nhau; mua cổ phiếu của nhiều khu vực khác nhau; mua cổ phiếu của các công ty có những thành phẩm khác nhau; mua ở những thời điểm khác nhau... Tuy nhiên, nếu đa dạng hóa đầu tư quá mức cũng sẽ có những nhược điểm như: làm cho việc quản lư khó khăn, tốn nhiều công sức điều tra và phân tích, làm tăng chi phí mua bán, làm giảm bớt cơ hội đạt lợi nhuận cao.

 

Khi nào mua?

 

Một câu trả lời rất đơn giản là “khi nào cần thấy được th́ mua”. Bởi v́ một số không ít những nhà kinh doanh chứng khoán cho rằng họ thường sai lầm trong việc đánh giá về thị trường nói chung và một số cổ phiếu nói riêng. Nói theo một nghĩa nào đó th́ những người kinh doanh chứng khoán là những người đầu tư giá trị, do vậy có những người khi thấy công ty trong giai đoạn hưng thịnh th́ mua cổ phiếu và thậm chí có nhiều người thích mua cổ phiếu của những công ty đang ở giai đoạn thất thế.

 

Từ đầu thế kỷ XVIII ở thị trưựng chứng khoán Tây Âu và thị trường chứng khoán Mỹ sau này đă đưa ra học thuyết “Đầu tư ngược ḍng”. Thuyết này đă đưa ra lời khuyên rằng “vẫn có thể lội ngược ḍng sông”. Thực tế cho thấy, đầu tư ngược ḍng có khả năng rủi ro rất cao nhưng cũng có cơ may đưa đến lợi nhuận khổng lồ bởi v́ rất có thể thời gian thất thế của một công ty sẽ được khôi phục trong tương lai. Có nhiều người có cùng dự đoán lạc quan đó nên số người đầu tư ngược ḍng tăng lên. Chính hành động có nhiều người có cùng nhận định, cùng mua cổ phiếu đă làm cho giá trị cổ phiếu được phục hồi uy tín ngay khi công ty này c̣n thất thế. Do vậy, không nhất thiết cứ phải mua cổ phiếu khi công ty đang có uy tín tốt mà vẫn có thể mua cổ phiếu khi công ty đang thất thế.

 

 

Mua chứng khoán một cách khôn ngoan

Bắt đầu hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán quả là không mấy dễ dàng. Mở tài khoản ở hăng tư vấn đầu tư sẽ rất tốn kém. Mua các loại chứng khoán khác nhau cũng đ̣i hỏi phải xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng.

 

Cách tốt nhất để bắt đầu "buôn" chứng khoán là dùng chiến lược gọi là b́nh quân giá chi phí đôla (dollar-cost averaging). Đây là một thuật ngữ thường dùng để thực hiện các khoản đầu tư vào một chứng khoán thường xuyên và có hệ thống mà không tính đến yếu tố giá cả.

 

Các cuộc nghiên cứu đă cho thấy rằng các nhà đầu tư theo chiến lược đó thường có khuynh hướng phải trả mức giá thấp hơn những người mua chứng khoán theo số lượng lớn. Chiến lược này khá hữu hiệu, đặc biệt đối với ngành có độ giao động cao như ngành công nghệ. Sở dĩ như vậy là bởi v́ cùng 100$ một tháng có thể mua được nhiều chứng khoán hơn khi giá xuống và sẽ mua được ít chứng khoán hơn khi giá lên.

 

Có rất nhiều cách để thiết lập nên những khoản đầu tư chứng khoán theo hệ thống. Cách thứ nhất có thể là thực hiện việc mua vào chứng khoán liên tục thông qua một nhà môi giới giảm giá trên mạng. Hoặc là nhà đầu tư có thể sử dụng dịch vụ của các nhóm hỗ trợ nhà đầu tư về chứng khoán.

 

Nguyên tắc quan trọng nhất khi đầu tư chứng khoán là phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đă đề ra và thiết lập những khoản đầu tư thường xuyên trong quỹ chứng khoán của bạn mỗi tháng, bất kể là khoản đầu tư ấy nhỏ đến mức nào. Và sau đó, bạn hăy b́nh tĩnh vượt qua những "thử thách cam go" của thị trường.

 

Định hướng tài sản trong đầu tư chứng khoán

Thế nào là tài sản thực và thế nào là tài sản tài chính? Nhà đầu tư nên đầu tư vào loại tài sản nào trên thị trường chứng khoán? Đó là câu hỏi mà các nhà đầu tư chứng khoán cần trả lời trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư chứng khoán. Có một số nhà đầu tư đă nhầm lẫn khi trả lời câu hỏi trên. Kết quả là họ phải chịu những khoản thua lỗ không đáng có.

 

Tài sản thực là các loại tài sản trực tiếp tham gia quá tŕnh sản xuất hàng hóa - dịch vụ của nền kinh tế như: đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, chất xám,...

 

Ngược lại, tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp quá tŕnh sản xuất hàng hóa – dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá,... Các loại tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể chỉ là những dữ liệu trong máy tính, sổ sách.

 

Tài sản tài chính yêu cầu cao về lợi tức mà các tài sản thực tạo ra. Nói cách khác, tài sản thực tạo ra lợi tức thuần cho nền kinh tế, c̣n tài sản tài chính th́ định ra sự phân phối lợi tức hoặc của cải giữa các nhà đầu tư.

 

Các nhà đầu tư đem của cải của ḿnh đi mua các loại chứng khoán (tài sản tài chính). Những người phát hành chứng khoán (công ty, chính phủ,...) sử dụng số tiền huy động được từ việc phát hành chứng khoán để đầu tư mua tài sản thực như nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nghệ, hàng hoá và thương quyền. Khi đó, thu nhập từ chứng khoán của các nhà đầu tư chủ yếu từ lợi tức do các tài sản thực tạo ra và các tài sản thực này th́ được tài trợ chủ yếu bằng việc phát hành chứng khoán.

 

Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là các tài sản tài chính, không là tài sản thực. Tùy theo ư chí và mục đích đầu tư¬, các nhà đầu tư có thể lựa chọn đầu tư vào các loại chứng khoán sau:

 

Chứng khoán lợi tức cố định:

 

Chứng khoán này được trả lợi tức cố định hàng năm như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty,... Thông thường, lợi tức thấp do rủi ro rất thấp nếu t́nh h́nh tài chính của công ty tốt và lành mạnh.

 

Chứng khoán vốn (cổ phiếu thường):

 

Cổ tức tùy thuộc vào kết qủa hoạt động kinh doanh của công ty hàng năm. Nếu công ty hoạt động hiệu quả, giá trị cổ phần vốn tăng, ngư¬ợc lại nếu hiệu quả kém th́ giá trị cổ phần vốn sẽ giảm. Do vậy, đầu tư vào loại chứng khoán này luôn gắn liền với hiệu quả kinh doanh và tài sản thực của công ty. Do đó, mức độ rủi ro khá cao. Tuy nhiên, nếu phân tích và dự đoán chính xác hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty th́ mức lợi nhuận thu được từ cổ tức và giá trị cổ phần đầu tư có thể rất cao, đôi khi trong khoảng thời gian rất ngắn.

 

Chứng khoán có điều kiện:

 

Chứng khoán này là các hợp đồng quyền lựa chọn (option) và các hợp đồng tương lai (future), cung cấp những khoản thanh toán được xác định trước theo giá của các tài sản khác như giá trái phiếu, cổ phiếu hay hàng hoá. Loại chứng khoán này hiện nay rất thông dụng trên thị trường chứng khoán các nước do được sử dụng linh động và thuận tiện trong các giao dịch trên thị trường.

 

 

Đầu tư bất hợp pháp, biết để tránh!

Để đảm bảo một môi trường đầu tư lành mạnh, thị trường chứng khoán cần được xây dựng trên nền tảng thi hành trung thực và công bằng. Nhà đầu tư phải được bảo vệ tối đa. Sự an toàn chính là nhân tố thuyết phục cho thị trường tồn tại và được duy tŕ bởi: một hành lang pháp luật, một hệ thống quy chuẩn và nghiệp vụ được chuẩn hoá chi li và những điều cấm kỵ có tính nguyên tắc.

 

Trên thị trường có một số hoạt động bất hợp pháp mà điều này đôi khi ảnh hưởng đến quyền lợi của những nhà đầu tư. Những nhà đầu tư kinh nghiệm thường biết để hạn chế tối đa rủi ro cho ḿnh. Tuy nhiên đối với những nhà đầu tư mới vào nghề th́ vấn đề này vẫn c̣n rất mới mẻ. Và nếu không cẩn thận, nhà đầu tư sẽ “sập bẫy” trên thị trường chứng khoán

 

Giao dịch giả tạo

 

Tương tự như việc đưa ra chào mua, chào bán ảo, việc dựng lên các giao dịch nguỵ tạo có thể được một sổ người sử dụng nhằm tạo các đột biến thị trường cho một loại chứng khoán nào đó ngơ hầu phục vụ cho dụng ư cá nhân. Các động tác giả (artificial transactions) này dù được vận dụng dưới bất cứ h́nh thức nào đều bị nghiêm cấm.

 

Gài thế

 

Cũng nhằm ngụy tạo cảm giác thị trường của một chứng khoán nào đó sôi động, cùng lúc có hai người đưa ra hai lệnh mua và bán giống hệt nhau thông qua cùng một công ty môi giới và được thực hiện. Kết quả mua bán được báo cáo trên các hệ thống thông tin nhưng kỳ thực đây chỉ là một một mánh khoé tạo xung động giá chứ không có mua bán theo cung cầu trung thực.

 

Các cá nhân cũng có thể tự thực hiện thủ thuật này hoặc do các nhóm cùng cánh làm ăn bất chính tạo ra. Các công ty chứng khoán buộc phải lưu ư và phát hiện các lệnh đối ứng kiểu này và không được thực hiện nghiệp vụ khi biết rằng đó là một hoạt động gài thế (matching). Ví dụ mua và bán cùng loại chứng khoán, cùng số lượng, gần như cùng giá tại cùng thời điểm,…

 

Mua bán đột biến

 

Mua bán đột biến tăng lên được xác định khi một thành viên có thể cấu kết với khách hàng - thực hiện các lượng mua bán một lượng chứng khoán vượt trội, tại một thời điềm nào đó, khác xa với diễn biến b́nh thường, hoặc vượt quá sự cân đối nguồn tài chính của ḿnh một cách lộ liễu. Hoạt động này có thể bị kết tội hoặc bị truy cứu đă gây nhiễu loạn thị trường.

 

Dùng các phương tiện truyền thông để gây ảnh hưởng thị trường

 

Các công ty chứng khoán, hoặc các cá nhân, đơn vị liên quan, không được dùng tiền mua chuộc và tạo ra các bài viết, các nhận định thuận lợi theo ư ḿnh hoặc các đề cập có dụng ư khác trên báo chí, các ấn phẩm tài chính,... Tất nhiên điều cấm kỵ này không bao gồm các quảng cáo b́nh thường trên các phương tiện truyền thông và được phân biệt rơ như vậy.

 

Phao tin thất thiết hay gây lạc hướng

 

Các nhà kinh doanh giao dịch chứng khoán bị cấm sử dụng vị thế của ḿnh để tạo ra các trung tâm ảnh hưởng và nơi đưa ra ư kiến nhằm lung lạc khách hàng bằng việc truyền bá hoặc cung cấp các thông tin sai lạc hoặc thất thiệt phục vụ cho mục tiêu lôi kéo quần chúng mua hay bán một loại cố phiếu cụ thể nào đó.

 

Chạy trước

 

Hành động chạy trước liên quan tới những t́nh huống theo đó một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán trong khi đang giữ một lệnh mua hay bán của khách hàng đặc biệt là các khối lượng lớn có chiều hướng làm biến đổi thị trường lại thực hiện mua hoặc bán cho ḿnh cùng phía với lệnh của khách hàng, trước khi đưa lệnh đó ra thị trường.

 

Nếu là lệnh mua, nhà kinh doanh môi giới không được mua riêng cho ḿnh với giá bằng hay thấp hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.

 

Tương tự trường hợp khách hàng ra lệnh bán th́ công ty đó không được bán chứng khoán cùng loại cho tài khoản công ty ḿnh bằng hoặc cao hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.

 

Ép giá, trợ giá, chốt giá

 

Bất cứ nỗ lực chủ quan nào nhằm để tạo một áp lực làm cho giá một chứng khoán nào đó bị hăm lại ở mức thấp, hoặc đẩy giá xuống thấp hơn, được xem là hành động ép giá. Điều này bị lên án và cấm kỵ trong thị trường chứng khoán.

 

Tương tự các tác động chủ ư nhằm để duy tŕ một giá cao giả tạo hoặc chốt giá ổn định một cách không b́nh thường đối với một chứng khoán đều là các hành vi sai phạm và bị cấm.

 

Bên cạnh các biện pháp giám sát và duy tŕ sự tuân thủ các điều cấm cụ thể trên đây, có thể nói, toàn bộ thị trường chứng khoán được vận hành dựa vào một hệ thống nghiệp vụ, kỹ thuật, quy phạm,... được chuẩn hoá cao độ. Các hoạt động trong thị trường chứng khoán hầu như tất cả đều dựa trên những 'đường ray' theo một trật tự ăn khớp nhau. Sự tinh tế và nhạy cảm phát đi từ hiệu lực của hệ thống. .. giúp cho người ta có thể đo được độ trung thực theo yêu cầu “fair play” cho cả những thương vụ cực kỳ ngắn dù phải tính bằng giây.

 

Tính kỷ luật trong thị trường chứng khoán do được thể hiện từ các chuẩn mực chuyên sâu và cương kỷ như vậy, người đầu tư khi giao dịch trong thị trường này cần thiết phái nhờ đến chuyên viên tư vấn hoặc các broker.

 

 

Có nên chuyển đổi mục tiêu đầu tư để t́m kiếm lợi nhuận khác?

Chuyển đổi mục tiêu đầu tư để t́m kiếm những khoản lợi nhuận khác lớn hơn luôn là lẽ thường trong hoạt động của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng dễ dàng như mong muốn: có những lúc thị trường chứng khoán lên giá khiến nhiều nhà đầu tư “mừng ra mặt”, nhưng cũng có khi thị trường sụt giảm làm không ít nhà đầu tư “mất ăn mất ngủ”. Nhiều người đă chuyển hướng đầu tư để tránh thua lỗ. Nhưng liệu những hành động như vậy có phải vào thời điểm nào cũng được coi là thích hợp?

 

Câu hỏi đặt ra với các nhà đầu tư chứng khoán là họ có nên rút tiền đầu tư để mua trái phiếu, vàng hoặc ngoại tệ mạnh trước việc giá cổ phiếu sụt giảm không? Câu trả lời không dễ dàng chút nào, bởi v́ có một điều không thể phủ nhận đó là yếu tố bất ổn tâm lư luôn là kẻ thù của các nhà đầu tư.

 

Một quyết định mua hay bán ở thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá tŕnh đầu tư của bạn. Tại Mỹ và châu Âu, rất nhiều nhà đầu tư cá nhân đă t́m đến các chuyên gia tư vấn, những nhà môi giới chuyên nghiệp trước khi quyết định đầu tư. Điều này gần như đă trở thành đương nhiên, bởi nếu bạn có một quyết định đầu tư không sáng suốt th́ việc khắc phục hậu quả sẽ làm bạn đau đầu hơn nhiều. Tất nhiên, khi bị thua lỗ th́ nhiều nhà đầu tư tỏ ra chán nản với thị trường chứng khoán. Thực tế, nếu thị trường chứng khoán có thể đem lại lợi nhuận lớn trong một thời gian ngắn th́ cũng có thể làm cho nhà đầu tư chứng khoán thua lỗ lớn cũng trong một thời gian như vậy. Do vậy, những nhà đầu tư tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận luật chơi đó.

 

Patrick W Cabe, phó tổng giám đốc Citibank, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ, khi nhận xét về sự tăng giảm giá các loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đă cho biết: “Thị trường biến động quá nhanh và tính ổn định kém. Đây là những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán của các công ty niêm yết. Một số nhà đầu tư đă rút tiền khỏi tài khoản để mua vàng khi giá vàng tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Tôi cho rằng, các nhà đầu tư này nếu bắt chước một số khách hàng của ngân hàng rút đô la Mỹ (USD) bán lấy đồng nội tệ rồi đi mua vàng, th́ họ sẽ bị thua thiệt”.

 

Dự trữ vàng có điều bất lợi là không sinh lời như kiểu cho vay. Nó có điều lợi duy nhất là trong thời gian dài vừa qua giá vàng đă tăng lên đáng kể. Vậy đầu tư vào vàng nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào sự tiên đoán về biến chuyển của giá vàng trên thị trường quốc tế. Biến động này thay đổi tuỳ theo ba thời kỳ như sau:

 

- Từ năm 1930-1968: giá vàng trên thị trường thế giới gần như ổn định ở mức 35 USD/Ounce = 35 USD / 31,103 gr. Bất cứ ai tích trữ vàng cũng đều mất một khoản tiền lời và những khoản lợi tức, trong khi họ có thể dùng vốn đầu tư vàng vào việc đầu tư thứ khác. Trong thời kỳ này đầu tư vàng bất lợi hơn so với đầu tư ngoại tệ.

 

- Từ 1968 - tháng 7 năm 1973: Giá vàng đă bắt đầu chuyển biến mạnh, nhất là từ ngày 15-08-1971 khi Mỹ quyết định thả nổi đồng USD, để cho giá vàng biến chuyển theo luật cung cầu trên thị trường. V́ vậy, giá vàng từ dưới 40 USD/ ounce lên tới 130 USD/ounce vào tháng 7 năm 1973, rồi cứ thế thăng trầm theo chiều hướng đi lên theo đà mất giá của đồng Mỹ kim, xuất phát từ t́nh trạng lạm phát và thâm thủng trong cán cân thanh toán của Mỹ. T́nh trạng đó kéo dài tới 1980 với giá gần 700 USD/ounce.

 

- Từ năm 1988 cho tới nay dưới tác động của sự hoà dịu giữa Đông và Tây, giá vàng đă giảm mạnh, từ 460 USD (tháng 5 năm 1988) lại thăng trầm theo chiều hướng đi xuống tới mức chỉ c̣n 370 USD (tháng 5 năm 1989), tăng lên 400 USD vào cuối năm 1989 và đầu năm 1990 nhưng rồi dần dần giảm xuống mức 350 USD vào tháng 6 năm 1998, đến nay giá vàng đang trong xu hướng tăng trở lại. Giá vàng trong năm 2006 này có nhiều khả năng sẽ phá vỡ các kỷ lục trước đó. Hiện nay mức cản kỹ thuật 575 USD/ounce đă bị phá vỡ và thị trường đang nhắm đến mức 600USD/ounce. Tuy nhiên, dự đoán trong tương lai giá vàng không thể lên cao được như trước đây mà sẽ có khuynh hướng ổn định lâu dài

 

Giá vàng tăng chỉ là nhất thời do yếu tố tâm lư, do vậy khi cú sốc tâm lư qua đi th́ sẽ b́nh ổn trở lại và có thể giá vàng sẽ thấp hơn thời điểm hiện nay. Những người rút tiền đi mua vàng sẽ chịu thiệt bởi phải mua đắt bán rẻ và thiệt hại này sẽ lớn hơn b́nh thường khi họ mua đúng vào thời điểm vàng đang “sốt”.

 

Đối với việc đầu tư ngoại tệ, h́nh thức này có điểm lợi hơn so với đầu tư vàng là có thể dùng ngoại tệ để mua những trái phiếu ngắn hạn trên thị trường quốc tế. Số thặng dư ngoại tệ dùng vào mục đích sinh lợi nói trên bao gồm những ngoại tệ mạnh được tự do chuyển đổi. Căn cứ mọi diễn biến của thanh toán quốc tế, các nhà đầu tư sẽ phân tích, tính toán để có thể chuyển đổi từ một thứ ngoại tệ đang mất giá sang thứ ngoại tệ mạnh khác đang tăng giá. Không nên đầu tư vào những ngoại tệ không chuyển đổi tự do được.

 

Patrick khuyên rằng để hạn chế bớt rủi ro, những nhà đầu tư nhỏ cần quan tâm đến các loại trái phiếu v́ trái phiếu có độ an toàn và tính ổn định cao hơn. Thuật ngữ “Corporate bond” đă không c̣n xa lạ với nhiều nhà đầu tư ngày nay, bởi đây là một trong những phương thức đầu tư an toàn và hiệu quả. Hiện nay, trái phiếu ngoại tệ mà các ngân hàng thương mại đang phát hành có thể coi là một cơ hội rất tốt cho những nhà đầu tư muốn t́m kiếm một công cụ đầu tư tài chính thích hợp.

 

Mặc dù vậy, theo Patrick th́ mặc dù đầu tư vào trái phiếu không thể đem lại lợi nhuận như đầu tư cổ phiếu, nhưng các nhà đầu tư cần hiểu rằng, lợi nhuận lớn luôn đi kèm với mức độ rủi ro cao và trong một thị trường có tính ổn định kém th́ rủi ro sẽ càng lớn, chẳng hạn như rủi ro về lăi suất thị trường, giá của một trái phiếu công ty sẽ thay đổi theo hướng ngược lại với lăi suất thị trường. Khi lăi suất thị trường tăng, giá trái phiếu sẽ giảm và ngược lại. Hay khi bán một trái phiếu trước ngày đáo hạn, th́ khi lăi suất thị trường tăng, nhà đầu tư sẽ lỗ vốn, có nghĩa là bán trái phiếu thấp hơn giá mua vào. Trái phiếu c̣n vướng phải rủi ro về lạm phát. Rủi ro này xuất hiện khi trị giá lưu lượng tiền mặt của một trái phiếu thay đổi do lạm phát. Ví dụ, nếu nhà đầu tư mua một trái phiếu có lăi suất 8%/năm, nhưng tỷ lệ lạm phát là 9%/năm, th́ thực tế, sức mua lưu lượng tiền mặt đă giảm. Ngoại trừ trái phiếu lăi suất thả nổi, c̣n đầu tư vào tất cả trái phiếu khác đều chịu rủi ro lạm phát, v́ mức lăi suất được công ty phát hành cam kết sẽ cố định trong suốt kỳ hạn của trái phiếu.

 

Có thể nói, không có h́nh thức đầu tư nào là an toàn và hiệu quả tuyệt đối cả. Trước đây, khi nói về kinh nghiệm đầu tư của ḿnh, các nhà đầu tư thành đạt nhất trên thế giới như W.Buffet hay G.Soros... đều hay nhắc đến hai kẻ thù mà họ cho rằng không thể đội trời chung, đó là “ḷng tham” và “nỗi sợ hăi”. Hai kẻ thù này nằm ngay trong con người các nhà đầu tư mà chính họ lại không biết, hay có biết th́ cũng hết sức chủ quan không để ư cho đến khi thất bại xảy ra. Điều quan trọng nằm ở chính là sự b́nh tĩnh, biết kiềm chế để có những tính toán hợp lư của các nhà đầu tư.

 

Sẽ là quá muộn nếu các nhà đầu tư không nhận ra rằng thị trường chứng khoán không phải là nơi tiêu tiền nhanh và vô bổ nhất, cũng như không phải là nơi kiếm tiền dễ dàng và nhàn nhă nhất. Và chỉ có những nhà đầu tư biết có cái đầu lạnh và sáng suốt mới tránh được sự hối tiếc, nếu một ngày kia giá chứng khoán tăng trở lại.

 

 

Giá cả biến động – nguyên nhân từ đâu ?

Giá chứng khoán thay đổi hàng ngày bởi các lực lượng thị trường – tác động từ hai phía: cung và cầu. Nếu có nhiều người muốn mua (cầu) hơn muốn bán (cung), giá sẽ tăng. Ngược lại, nếu có nhiều người muốn bán hơn là muốn mua (cung lớn hơn cầu), giá chứng khoán sẽ giảm.

 

Hiểu được cung và cầu là điều không có ǵ là khó khăn. Điều khó khăn là nhận biết được cái ǵ là nguyên nhân khiến người ta thích một cổ phiếu đặc thù hoặc không thích một cổ phiếu khác. Kết quả là, khó khăn trên trở lại vấn đề: thông tin nào là tích cực, thông tin nào là tiêu cực với một công ty. Có rất nhiều câu trả lời cho vấn đề này và chỉ xoay quanh việc bất cứ nhà đầu tư nào bạn gặp cũng có quan điểm và chiến lược riêng.

 

Người ta nói rằng, nguyên tắc lư thuyết là vận động của giá cả một cổ phiếu cho thấy điều ǵ khiến nhà đầu tư cảm thấy công ty ḿnh lựa chọn là hợp lư. Không nên cào bằng giá trị công ty với giá cổ phiếu. Giá trị công ty chính là giá trị thị trường (bằng giá cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phát hành). Giá cổ phiếu không chỉ phản ánh giá trị hiện tại của công ty, mà c̣n phản ánh mức (tốc độ) tăng trưởng mà nhà đầu tư ḱ vọng trong tương lai.

 

Nhân tố quan trọng nhất phản ánh giá trị công ty là lợi nhuận thu được – trong dài hạn, không một công ty nào có thể tồn tại mà không cần tới nó. Các công ty cổ phần phải có trách nhiệm báo cáo thường kỳ t́nh h́nh lợi nhuận của ḿnh. Từ đó, nếu kết quả đạt hay vượt ḱ vọng, giá cổ phiếu sẽ tăng, và ngược lại.

 

Tất nhiên, không phải chỉ có lợi nhuận mới có thể khiến dự cảm về một cổ phiếu thay đổi (nhân tố khiến giá cổ phiếu thay đổi). Chẳng hạn, có hàng tá công ty coi Internet là một thành tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh (dot-com company) có thể gia tăng giá trị thị trường lên hàng tỉ USD mà thậm chí không kiếm được một đồng lợi nhuận nào.

 

Tất cả chúng ta đều biết rằng, những giá trị trên không thể kéo dài măi, và hầu hết các công ty như vậy nhận thấy giá trị của họ giảm mạnh. Cho đến giờ, sự thật là giá cả không biến động phụ thuộc vào nhiều nhân tố chứ không chỉ có lợi nhuận hiện tại. Các nhà đầu tư đă h́nh thành hàng trăm biến số, tỉ lệ và chỉ số. Nhiều chỉ số bạn đă từng biết tới, như P/E, Chaikin Oscillator hoặc MACD.

 

Vậy th́ tại sao giá cổ phiếu thay đổi ? Câu trả lời thoả đáng nhất là, không ai biết chắc chắn. Nhiều người tin rằng, không thể dự đoán giá cổ phiếu sẽ biến động ra sao, trong khi những người khác cho rằng, bằng việc xây dựng các biểu đồ và nh́n vào xu hướng giá trong quá khứ, bạn có thể xác định khi nào th́ nên mua, khi nào nên bán. Điều duy nhất chúng ta biết chắc chắn là giá cả thay đổi hết sức mau lẹ.

 

Có nhiều lí thuyết nhằm giải thích cách thức giá cổ phiếu biến động, nhưng chẳng có lí thuyết nào có thể giải thích tất cả.

 

 

Giảm thiểu thua lỗ trong đầu tư chứng khoán

Khi bạn đồng thời đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, sự thua lỗ của một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục đầu tư, thậm chí nhiều khi bạn có thể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các chứng khoán khác trong cùng một danh mục đó.

 

Hiểu một cách khái quát nhất th́ danh mục đầu tư là một tập hợp gồm ít nhất hai loại chứng khoán trở lên. Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng và quản lư một danh mục đầu tư là đa dạng hoá nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn.

 

Tuy nhiên, việc hạn chế thua lỗ bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư cũng có một cái giá của nó: bạn cũng không thể thu được các khoản lợi nhuận lớn. Rất ít người đầu tư có thể thu được khoản lợi nhuận cao từ việc đầu tư tất cả số tiền của họ vào một loại chứng khoán tốt nhất hiện có trên thị trường. Do đó, đại đa số công chúng đầu tư chọn h́nh thức đầu tư thứ hai là giảm thiểu hoá thua lỗ bằng cách đa dạng hoá đầu tư. Và suy cho cùng th́ việc từ bỏ những món hời lớn, bằng ḷng với những khoản thu nhập vừa phải để tránh thua lỗ quá mức là một cái giá vừa phải và hoàn toàn hợp lư.

 

Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn từng bước trong việc xây dựng một danh mục đầu tư phù hợp với cá tính cũng như mục đích mà bạn đă chọn.

 

Bước 1: Xác định bạn là người đầu tư tích cực hay thụ động?

 

Khi bắt tay vào xây dựng danh mục đầu tư¬, điều quan trọng trước tiên mà bạn phải xác định là xem ḿnh thuộc dạng nào: tích cực hay thụ động? Đây là một việc làm hết sức cần thiết, v́ nó sẽ quyết định đến toàn bộ cách thức đầu tư của bạn sau này. Người đầu tư tích cực là người luôn sẵn sàng bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để quản lư danh mục đầu tư của ḿnh. C̣n người đầu tư thụ động th́ chỉ muốn bỏ ra một khoảng thời gian tối thiểu cần thiết để theo dơi các khoản đầu tư và bằng ḷng với các khoản lăi khiêm tốn có được. Cần lưu ư rằng quy mô đầu tư là không quan trọng mà điều cốt yếu là bạn tiêu tốn bao nhiêu thời gian và công sức cho danh mục đầu tư của ḿnh. Chúng ta có thể thấy rằng đa số các nhà đầu tư đều thuộc dạng thụ động, bởi v́ họ là những người không chuyên nghiêp, thiếu kỹ năng chuyên sâu cũng như đă bị các công việc hàng ngày chiếm mất quỹ thời gian.

 

Bước 2: Quyết định cơ cấu của danh mục đầu tư.

 

Điều thứ hai cần tính đến là tỷ trọng cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đó. Đây là một quyết định mang tính chất cá nhân và tuỳ theo quan điểm mỗi người. Một số người không thích đầu tư quá nhiều vào cổ phiếu, c̣n một số khác lại không thích sở hữu quá nhiều trái phiếu. Cho đến nay vẫn ch¬ưa có tiêu chuẩn cụ thể về tỷ lệ này. Hiện nay, đa số ư kiến nghiêng về tỷ lệ 50/50, tức là 50% số tiền của danh mục được sử dụng để đầu tư vào cổ phiếu, phần c̣n lại sẽ được sử dụng để mua trái phiếu. Nhiều nhà tư vấn đề nghị tăng tỷ lệ trái phiếu trong danh mục khi chủ sở hữu sắp đến tuổi về hưu. Tuy nhiên, một số cá nhân khác lại có quan điểm cho rằng, trước sức ép của lạm phát cũng như khả năng kiếm tiền sẽ suy giảm khi về già, chủ sở hữu danh mục nên tăng dần tỷ lệ cổ phiếu theo thời gian. Họ lập luận là không nên giảm tỷ lệ sở hữu cổ phiếu trong danh mục đầu tư v́ lương hư¬u và bảo hiểm xă hội sẽ không thể tăng như lạm phát. Chính v́ vậy mà cổ phiếu là một trong những lựa chọn được ¬ưu tiên hàng đầu để chống lại ảnh h¬ưởng của lạm phát. Tuy nhiên, cũng có khi thu nhập do cổ phiếu đem lại không theo kịp với tỷ suất lợi nhuận của trái phiếu chất l¬ượng cao. Trong trường hợp này, đầu tư vào các trái phiếu chất l¬ượng cao và để dành một khoản tiết kiệm để đối phó với lạm phát được xem là một biện pháp khả thi.

 

Ngoài ra c̣n một trường hợp khác mà chúng ta cũng cần đề cập tới, đó là tỷ trọng của danh mục đầu tư có cần phải điều chỉnh theo sự biến động của thị trường không? Giả sử rằng bạn đang có trong tay một danh mục đầu tư với tỷ lệ 50/50. Nếu thị trường cổ phiếu tăng giá và làm cho danh mục của bạn có tỷ lệ 65% cổ phiếu và 35% trái phiếu th́ bạn có nên bán bớt một số cổ phiếu để đưa danh mục trở về tỷ lệ 50/50 hay không? Xung quanh vấn đề này vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau nhưng nh́n chung đại đa số các nhà đầu tư sẽ không bán đi cổ phiếu để đề pḥng trường hợp khi cổ phiếu giảm giá th́ danh mục sẽ trở về mức cân bằng 50/50.

 

Bước 3: Đa dạng hoá danh mục đầu tư.

 

1. Đa dạng hóa tổ chức phát hành. Nếu danh mục đầu tư của bạn chỉ bao gồm toàn bộ các trái phiếu Chính phủ th́ bạn không cần phải đa dạng hoá chủng loại các chủ thể phát hành, bởi v́ trái phiếu Chính phủ hoàn toàn không có rủi ro. Tuy nhiên, nếu bạn mua trái phiếu công ty, trái phiếu địa phương hoặc cổ phiếu th́ việc đa dạng hoá chủ thể phát hành là một vấn đề cần được cân nhắc, bởi v́ các loại chứng khoán này luôn tiềm tàng một số rủi ro nhất định. Vấn đề đặt ra là nên đa dạng hóa đến mức độ nào? Điều này c̣n tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi cá nhân. Chẳng hạn như nếu bạn mua cổ phiếu của 20 nhà phát hành khác nhau và khi một nhà phát hành chẳng may bị phá sản th́ danh mục đầu tư của bạn chỉ bị suy giảm 5%. Mỗi nhà đầu tư sẽ tự đ¬ưa ra quyết định cho danh mục đầu tư của ḿnh dựa vào cá tính bản thân, tiềm lực tài chính cũng như mức độ rủi ro mà họ có thể chịu đựng.

 

2. Bên cạnh việc đa dạng hoá các tổ chức phát hành, bạn cũng cần đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hóa các nguồn thu hoặc có thể đa dạng hoá theo vị trí địa lư. Bạn cần chú ư rằng, càng đa dạng hoá th́ sẽ càng hạn chế được rủi ro, tuy nhiên đừng nên đa dạng hoá quá nhiều v́ như vậy sẽ tốn rất nhiều công sức quản lư và đến một lúc nào đó th́ danh mục sẽ vượt quá tầm kiểm soát của bạn.

 

 

Các phương pháp phân tích giúp bạn đầu tư có hiệu quả!

Đă bao giờ bạn nghe một ai đó nói rằng 75% sự dao động của giá cổ phiếu là do những thay đổi chính ngay từ bên trong ngành kinh doanh đó? Tuy khó có thể đưa ra con số dự đoán chính xác nhưng một điều chắc chắn rằng những xu hướng trong một ngành có ảnh hưởng rất lớn đến những lợi nhuận và giá cổ phiếu của mỗi công ty trong chính ngành đó. Chính v́ vậy, chúng ta cũng nên nghiên cứu và t́m hiểu không chỉ riêng cổ phiếu mà c̣n cả những xu hướng trong các ngành kinh doanh đó.

 

Các nhà đầu tư thường dồn tiền đầu tư vào những khu vực có ưu thế hơn của thị trường, được gọi là chuyển đổi đầu tư ngành. Sự chuyển đổi đầu tư này thường xuyên bị tác động bởi những sự kiện mà có thể ảnh hưởng không chỉ đến một công ty mà đến toàn bộ ngành đó. Ví dụ, khi giá dầu tăng, các nhà đầu tư sẽ không đầu tư tiền để mua cổ phiếu của ngành hàng không và vận tải mà đầu tư vào các công ty khai khác dầu hay các công ty dầu lớn. Khi đó, giá của các hàng hoá và sản phẩm của nhiều ngành có liên quan cũng thay đổi theo.

 

Đôi khi, tiền c̣n được đầu tư vào nhiều khu vực khác nhau trên thị trường là do những biến động trong nền kinh tế. Chẳng hạn như, những thay đổi trong tỷ lệ lăi suất có thể dẫn việc chuyển đổi đầu tư vào một số khu vực nhạy cảm về lăi suất trên thị trường như ngân hàng và môi giới chứng khoán, nhưng đôi khi cũng có thể là không. Do đó, việc chuyển đổi đầu tư ngành trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng trong suốt quá tŕnh thay đổi của nền kinh tế.

 

Chính v́ vậy, để quyết định xem nên tiếp tục đầu tư vào ngành nào, các nhà đầu tư có thể sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau để nghiên cứu từng yếu tố mà có thể ảnh hưởng đến mỗi ngành. Sau đây là một vài nét cơ bản về ba phương pháp phân tích vẫn hay được sử dụng:

 

1) Phương pháp phân tích trực quan

 

Trong phương pháp này, việc phân tích sẽ tập trung nhiều hơn vào từng ngành và lợi nhuận thu được của chính ngành đó. Từ đó, có thể xác định được cổ phiếu ngành nào là cổ phiếu có tiềm năng nhất. Ví dụ, các cuộc bạo lực diễn ra ở Trung Đông là lư do chính khiến giá dầu tăng, lúc đó các nhà đầu tư sẽ chú ư đến ngành năng lượng để t́m cơ hội v́ giá cổ phiếu của ngành này tăng cao và khi đó dĩ nhiên giá cổ phiếu ngành hàng không sẽ giảm. Nhiều công ty môi giới chứng khoán đă đưa ra các bản báo cáo thường xuyên về các ngành, và sau đó áp dụng các phương pháp phân tích này để đưa ra những đánh giá.

 

2) Phương pháp phân tích kỹ thuật

 

Phương pháp này được coi như là một cách tiếp cận khác đối với việc chuyển đổi đầu tư ngành. Đó là cách chung nhất được sử dụng để lập và nghiên cứu những biểu đồ của các chỉ số ngành khác nhau. Chẳng hạn như chúng ta có thể dùng phương pháp này để lập biểu đồ về chứng khoán và từ đó xác định các dấu hiệu giao dịch. Về cơ bản, việc phân tích này thường sử dụng các chỉ số ngành khác nhau để thấy những thay đổi đang diễn ra trên thị trường. Sau đó, việc lựa chọn chứng khoán và các nhóm ngành để đầu tư sẽ được dựa trên những nghiên cứu đó.

 

Phương pháp này đă được tập đoàn Chartcraft ở New York sử dụng trong nhiều năm qua để xác định phần trăm cổ phiếu đang có dấu hiệu được mua vào so với phần trăm cổ phiếu được bán ra và từ đó t́m các nhóm ngành có tiềm năng nhất cũng như ít có tiềm năng nhất.

 

3) Phương pháp phân tích định lượng

 

Đây là phương pháp ít được sử dụng nhất. Một số công ty sử dụng các mô h́nh để xếp hạng các nhóm ngành dựa vào lợi nhuận thu được, tỷ lệ lăi suất, thay đổi về giá v.v. Các con số này được đưa vào một công thức và sau đó các ngành được xếp hạng dựa vào các kết quả vừa thu được. Có lẽ công cụ phổ biến nhất là hệ thống xếp hạng Value Line Invesment Survey. Hệ thống này được áp dụng cho cả chứng khoán và nhiều nhóm ngành khác.

 

Nh́n chung, nhiều nhà kinh doanh thường kết hợp ba phương pháp trên để nghiên cứu các ngành hoặc nhóm ngành cụ thể. Nhưng điều quan trọng là t́m ra các khu vực thị trường có tiềm năng nhất hoặc khu vực ít có tiềm năng nhất để có các chính sách đầu tư một cách hiệu quả. Việc sử dụng kết hợp này sẽ giúp bạn một cách đáng kể trong việc lựa chọn cổ phiếu v́ lịch sử từ trước tới nay cho thấy việc giá cổ phiếu cá nhân dao động thường là do những thay đổi không chỉ trong công ty mà c̣n do cả các nhóm ngành khác có liên quan.

 

Ba lỗi thường gặp khi đầu tư

Ở vào thời điểm nền kinh tế đang phát triển rất nhanh chóng như ngày nay, ngày càng có nhiều người có mức thu nhập cao hơn. Hầu hết mọi người đều muốn số tiền của ḿnh sinh lời với mức rủi ro thấp. Cách tốt nhất để có được lợi nhuận như vậy là đầu tư, nhưng bạn phải biết cách đầu tư sao cho có hiệu quả nhất.

 

Mặc dù mọi người đều biết cách đầu tư sao cho có hiệu quả nhưng vẫn có rất nhiều người không biết cách để giảm tối thiểu những rủi ro khi tiến hành đầu tư. Đa dạng hoá danh mục vốn đầu tư sẽ giúp công việc đầu tư ít rủi ro hơn.

 

Có rất nhiều người đầu tư tiền của ḿnh một cách mù quáng. Tuy bạn luôn luôn học được từ những người thành công trong việc đầu tư nhưng bạn chưa bao giờ nghe thấy hàng trăm vụ đầu tư đă làm mất các khoản tiền tiết kiệm lớn và thậm chí là cả căn nhà v́ họ không đưa ra được kế hoạch trước khi đầu tư.

 

Hăy bảo vệ số tiền của ḿnh bằng cách tránh những lỗi thường gặp mà các nhà đầu tư hay mắc phải:

 

1. Chỉ nh́n giá cổ phiếu một cách phiến diện

 

Nhiều người tin vào sự may mắn trong cuộc sống. Khi họ thấy giá cổ phiếu đang từ 0.75 USD lên 40 USD qua một đêm, ngay lập tức họ sẽ đầu tư các khoản tiền tiết kiệm để mong có cơ hội giàu lên một cách nhanh chóng. Khi bạn hỏi họ về công ty mà họ đang đầu tư, họ chỉ biết là mua cổ phiếu chứ không biết một chút ǵ về lĩnh vực mà công ty đang đảm nhiệm. Kiểu đầu tư này không khác ǵ là chơi tṛ đánh bạc. Trên thực tế, bạn đóng vai tṛ như là người làm cái trong một tṛ chơi ở ṣng bạc. Hăy tưởng tượng xem, bạn sẽ cảm thấy như thế nào nếu giá cổ phiếu của công ty này giảm 0,15 USD/cổ phiếu. Nếu bạn muốn có cơ hội với việc mua bán cổ phiếu th́ ít nhất bạn cũng phải t́m hiểu và sau đó đưa ra những kết luận chính xác.

 

- Công ty này có thuộc ngành đang phát triển không?

- Công ty này có gặp vấn đề ǵ rắc rối trước đây không?

- Công ty này làm ăn có lợi nhuận cao không?

- Công ty này có vốn đầu tư thấp hay cao và có kế hoạch để phát triển thêm hay không?

- Công ty này có tỷ lệ P/E cao hay không?

- Những lĩnh vực hoạt động hay kinh doanh chính của công ty này là ǵ?

 

Đây chỉ là những câu hỏi rất cần thiết mà bạn nên tự đặt ra cho ḿnh trước khi muốn đầu tư số tiền của ḿnh vào bất cứ một ngành nghề hay lĩnh vực nào. Nếu một người đưa cho bạn những cổ phiếu có giá cao mà không có những câu trả lời thoả đáng cho những câu hỏi trên th́ bạn cũng đừng nên đầu tư tiền quá nhiều để mua cổ phiếu của công ty này.

 

2. Không biết được những t́nh huống xấu nhất

Đầu tư trong trường hợp này có bảo đảm không? Bạn sẽ phải đóng những loại thuế và phí ǵ nếu bạn rút tiền? Phải luôn đảm bảo rằng bạn thấy được những tiềm năng trước khi muốn đầu tư vào bất cứ lĩnh vực hay ngành nghề ǵ?

 

3. Không đa dạng hoá ngành nghề đầu tư

Không nên chỉ tập trung vào một kiểu đầu tư? Hăy đầu tư số tiền ḿnh có vào công trái hay một số cổ phiếu th́ an toàn hơn là đầu tư vào một ngành hay một công ty. Khi đầu tư như vậy sẽ giảm mức độ rủi ro cho bạn v́ có thể một vài ngành tăng trong khi một vài ngành khác lại giảm.

 

Nh́n chung, bạn không thể mua một chiếc ô tô mà không kiểm tra kỹ trước khi mang nó về nhà. Đầu tư cũng vậy, bạn cũng phải xem xét và phân tích kỹ trước khi bỏ tiền ra đầu tư vào bất cứ lĩnh vực hay ngành nghề nào.

 

 

Kinh nghiệm đầu tư từ một cây đại thụ

“Tôi không bao giờ mua cổ phiếu đơn lẻ mà sẽ mua toàn bộ công ty. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên nhưng đó là công thức đầu tư của tôi”, Warren Buffet, một trong những nhà đầu tư tài chính thành công nhất thế giới đă nói như vậy khi nhận định về các cuộc đầu tư của ḿnh. Nhiều người tự hỏi không biết những chiến thuật đầu tư như vậy của Warren Buffet có hiệu quả hay không?

 

Trong suốt sự nghiệp đầu tư của ḿnh, Warren Buffet thường quan tâm nhiều tới các thông số cơ bản một của công ty như tốc độ tăng trưởng doanh số và lợi nhuận, từ đó rút ra những kết luận về giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như của cả công ty. Sau đó, bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị thực tế, ông quyết định có nên mua công ty hay không. Và thay v́ mua cổ phiếu, Warren Buffet đă chuyển qua mua các công ty (thường là của nền kinh tế cũ và đa dạng hoá tư nhân) được bán với giá rẻ trong thời kỳ bùng nổ công nghệ. Vài trong số này thuộc các loại h́nh hoạt động bảo hiểm, những công ty khác thuộc các ngành khác nhau như hăng sơn Benjamin More, hăng kinh doanh thảm Shaw, hăng dịch vụ công cộng MidAmerican Energy và gần đây nhất là hăng Pampered Chef, một hăng tư nhân chuyên tiếp thị trực tiếp đồ dùng bếp núc. Kết quả là những cổ đông nổi tiếng khó tính của Berkshire đă phần nào được giảm nhẹ áp lực với danh mục đầu tư gần đây đạt khoảng 26 triệu USD.

 

Thông qua những vụ mua lại như vậy (khoảng 20 công ty trong ṿng 5 năm), đội ngũ nhân viên của Berkshire đă tăng lên mạnh mẽ. Ngày nay, 145.000 người dân nước Mỹ có thể tự hào đứng lên mà khoe rằng “tôi làm việc cho Warren Buffet”. Đây cũng là công ty tư nhân lớn thứ 25 nước Mỹ, với thu nhập b́nh quân trên đầu người cao hơn cả PepsiCo và Marriott.

 

Vậy bằng cách nào mà Warren Buffet t́m và mua được các công ty mới để khuyếch trương thêm sự lớn mạnh của Berkshire? Một cách điển h́nh, chúng tự đến với ông. Ông nói “Ngày nay, người bán xuất hiện trong hai trường hợp. Một là bạn liên hệ được với nơi người ta cần bạn (tức họ muốn công ty họ thành một phần của Berkshire). Hai là, bạn nhận được những cuộc gọi từ những nơi người ta cần tiền mặt và cần tiền mặt nhanh. Berkshire Hathaway tự hào là những người mua có thể cung cấp tiền mặt trong ṿng một tuần.

 

Tập trung vào các kế hoạch đầu tư của đứa con cưng

 

Trung tâm cuộc đời Warren Buffet không phải là thị trường chứng khoán rộng lớn mà là Berkshire Hathaway, công ty “con cưng” của ông. Cũng dễ hiểu được rằng hoạt động của Berkshire chính là ch́a khoá dẫn đến những bí quyết đầu tư tài chính của Warren Buffet. Theo cộng sự Charlie Munger (cũng là hội viên chơi golf cùng với Tom Murphy, cựu giám đốc CapCities và Don Graham, CEO của Washington Post Co) th́: “Berkshire được vận hành cực đoan đến mức rất nhiều người không hiểu đầy đủ về công ty này. Chúng tôi có tổng phí thấp hơn và ra quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán nhanh hơn bất kỳ công ty nào có tầm cỡ như chúng tôi trên thế giới”.

 

Thực khó mà nói quá rằng Berkshire khác những công ty khác như thế nào. Đây là một tổng công ty với những hoạt động tầm cỡ trong lĩnh vực bảo hiểm, đóng nhiều vốn trong những công ty khổng lồ của Mỹ như Coke, Gillette và American Express. Berkshire cũng thống lĩnh ngành kinh doanh ống dẫn ga và các dịch vụ công cộng quan trọng, ngoài ra hăng c̣n sở hữu nhiều đến kỳ lạ các loại h́nh hoạt động b́nh thường như đại lư bán lẻ đồ đạc, hiệu trang sức, nhà máy giầy... Berkshire đă phát triển không với một kế hoạch quy mô hay bản đồ chỉ dẫn chiến lược nào nhưng cấu trúc hữu h́nh của nó có thể mang tới cho các nhà đầu tư một góc nh́n tốt vào tư tưởng Warren Buffet. Chẳng hạn: Nhiều năm nay, Berkshire được biết tiếng nhất như một công ty bảo hiểm với những giá trị cổ đông lớn kể trên.

 

Pampered Chef - vụ đầu tư thực hiện trong ṿng vài phút

 

Pampered Chef, vụ mua lại gần đây nhất của Warren Buffet có thể đem lại cho mọi người nhiều điều về nhăn quan đầu tư của ông. Nếu là nam giới hoặc không thích nấu ăn, có thể bạn chưa bao giờ nghe nói đến công ty này. Nếu không, rất có thể bạn đă biết đến tiếng từ các “chuyên gia” Pampered Chef chuyên bán đồ gia dụng bếp núc tại các bữa tiệc trong nhà họ.

 

20 năm trước, sáng lập viên Doris Christopher đă vay 3000 USD từ một hợp đồng bảo hiểm sinh mạng để khởi sự công ty này, nhờ thế bà có thể linh động thời gian dành cho hai đứa con gái nhỏ. Ngày nay, công ty này đă có trên 700 triệu USD doanh thu đến từ 70.000 nhà marketing trực tiếp, những người tổ chức trên 19000 cuộc biểu diễn trong nhà mỗi tuần. Có thể nói, khả năng sinh lợi của Pampered Chef rất cao với những lợi nhuận mà người khác phải mơ ước.

 

Nhưng ngay cả khi thịnh vượng như vậy, Christopher biết rằng bà cần có một kế hoạch để nhỡ may bà có qua đời hay v́ tuổi cao mà rút khỏi kinh doanh. Bà đă biết tiếng Warren Buffet từ lâu và tự trong ḷng bà cũng thấy trở thành một phần công ty của Warren Buffet là một điều rất tuyệt vời. Warren Buffet đă chấp nhận mua lại Pampered Chef gần như chỉ sau mấy phút đầu nói chuyện. Dù chỉ hai tháng trước đó, Warren Buffet chưa hề biết đến họ, ông có thể nhận thấy Doris và Sheila (CEO của Pampered) rất yêu thích kinh doanh. Hơn nữa, câu chuyện của họ có tất cả những ḍng cần thiết của một cốt truyện có hậu: Pampered là một công ty đặc quyền lợi nhuận cao đang phát triển, một công ty có thể nói là tầm cỡ để bắt đầu. Và tầm cỡ là một vấn đề đối với Warren Buffet. Đó là bởi Berkshire thực tế đang phát triển rất nhanh và hiển nhiên là đă lớn hơn rất nhiều so với nó 10 năm về trước. Doanh thu hàng năm đă tăng từ 3 tỷ USD lên gần 38 tỷ USD trong thời gian đó - với đa số tăng trưởng đến từ các vụ đầu tư mua lại có hiệu quả như Gen Re và Shaw trước đây. Berkshire đủ sức mua lại Pampered Chef.

 

 

Đầu tư thế nào là hợp lư?

Goerge Soros, một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại phố Wall, đă từng nói rằng “Không có lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận nhanh và lớn bằng đầu tư chứng khoán”. Quả thật, Soros không hề sai khi trên thị trường chứng khoán đă có nhà đầu tư kiếm được cả chục triệu USD chỉ ṿng một đêm với một kế hoạch đầu tư hợp lư.

 

Thị trường chứng khoán đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn với những khoản đầu tư không lồ. Không ít người xem việc đầu tư chứng khoán như tham gia vào một cuộc chơi ngẫu hứng với hy vọng việc mua chứng khoán sẽ kiếm được nhiều tiền nhanh chóng. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn này dường như không có chỗ cho những quyết định theo cảm tính. Muốn thành công bạn phải có kỹ năng phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề. Điều quan trọng hơn cả là phải hoạch định được một kế hoạch đầu tư thích hợp. Bạn phải t́m hiểu quá tŕnh hoạt động của công ty cũng như ngành nghề kinh doanh liên quan đến loại cổ phiếu đó. Đồng thời cũng cần theo dơi và t́m hiểu trào lưu giá cả lên xuống trên thị trường, để quyết định lúc nào nên mua, lúc nào nên bán. Để cho vấn đề trở nên dễ hiểu, bạn có thể quan tâm tới một số vấn đề cơ bản dưới đây:

 

Bắt đầu sớm.

 

Với hoạt động đầu tư, bạn càng dành thời gian cho nó nhiều bao nhiêu th́ bạn sẽ càng thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu. Sau đây là một ví dụ: Một người đầu tư 100 USD/tháng bắt đầu ở tuổi 25 trong ṿng 15 năm và sau đó dừng thêm tiền vào cổ phiếu của ḿnh. Một người khác cũng đầu tư 100 USD/tháng trong ṿng 25 năm nhưng bắt đầu ở tuổi 40. Vậy ai sẽ về hưu với số lượng lợi nhuận nhiều hơn ở tuổi 65? Đương nhiên là người đầu tư sớm hơn.

 

Xác định rơ mục đích đầu tư.

 

Cũng như các lĩnh vực đầu tư khác, đầu tư chứng khoán luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức thu nhập với mức rủi ro. Thu nhập càng cao th́ mức độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn. Khi đầu tư vào cổ phiếu, bạn thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu. Thu nhập từ cổ tức thường không được đảm bảo v́ c̣n tùy thuộc vào t́nh h́nh kinh doanh của công ty và quyết định của Hội đồng quản trị. Thu nhập từ mức tăng thị giá cổ phiếu là biểu hiện của mối quan hệ trực tiếp giữa triển vọng kinh doanh của công ty với nhu cầu mua cổ phiếu trên thị trường. Một khi công ty có những biểu hiện cho thấy triển vọng sẽ phát triển tốt th́ các nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai. Ngoài ra, đầu tư vào cổ phiếu chứa đựng nhiều loại rủi ro (bao gồm rủi ro về lăi suất, rủi ro về tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh, rủi ro lạm phát...) trong khi thu nhập chỉ có hai h́nh thức như đă nói ở trên. Do vậy bạn cần phải xác định mục đích đầu tư một cách rơ ràng. Đây là một yếu tố quan trọng và là cơ sở để đánh giá kết quả đầu tư. 

Mục đích đầu tư c̣n phản ánh lối sống và mong muốn của bạn. Nếu bạn theo đuổi mục tiêu thu nhập từ cổ tức th́ nên đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh dịch vụ công cộng như điện, điện thoại... hoặc các cổ phiếu thượng hạng. Bạn cũng có thể các cổ phiếu mà thị giá có xu hướng tăng về lâu dài để tạo thu nhập ở tuổi già. Cũng có khi bạn chọn cổ phiếu với mục tiêu có tính chất đầu cơ thông qua việc mua bán các cổ phiếu mà giá cả biến động mạnh trong thời gian ngắn. Đây là loại đầu tư có mức độ rủi ro cao nhất. Tuy vậy, nếu bạn là mới bắt đầu bước vào thị trường chứng khoán và mong muốn hoạt động đầu tư đơn giản và dễ hiểu th́ nên đầu tư hơn là đầu cơ.

 

Lựa chọn công ty tốt.

 

Công ty tốt thường là công ty ít nợ trong thời gian đă qua (thời gian càng dài càng tốt), và có lợi nhuận cao, hiện tại có lăi và triển vọng tương lai sáng sủa.

 

Lựa chọn thời điểm mua cổ phiếu.

 

Giá cổ phiếu thường không đứng yên, mà lúc lên lúc xuống. Vậy nếu ta chịu khó theo dơi trào lưu, mua vào khi giá ở mức thấp nhất và bắt đầu đi lên, và bán ra lúc thị trường ở mức cao nhất và bắt đầu đi xuống th́ sẽ có lời cao. Đây cũng là nguyên tắc thông thường trong kinh doanh.

Giá một loại cổ phiếu luôn luôn chịu ảnh hưởng của những trào lưu lên xuống giá của TTCK. Trong thời kỳ lên giá, thị trường thường kéo theo 70-80% loại cổ phiếu cũng lên. Khi xuống giá cũng tương tự. Bởi v́ cũng giống như thị trường hàng hoá, khi có nhiều người cùng mua một món hàng nào đó th́ giá hàng đó sẽ lên, kéo theo các hàng hóa khác cũng lên. Giá một loại chứng khoán sẽ lên khi có nhiều người cùng mua, và giá sẽ tụt xuống khi có nhiều người cùng bán.

 

Xây dựng một danh mục đầu tư tốt nhất.

 

Bạn hăy làm điều này một cách đơn giản, khởi đầu nếu bạn muốn đầu tư 100.000 USD vào năm loại cổ phiếu, mỗi loại sẽ được đầu tư 20.000 USD. Bạn không cố gắng mua một số lượng cổ phiếu nào đó, bạn chỉ đầu tư một số tiền đă định cho mỗi loại cổ phiếu. Nhưng đừng bao giờ quá hồ hởi trong việc mua cổ phiếu, đừng mua cả năm loại cổ phiếu một lần. Hăy thi hành từng bước một, hăy để cổ phiếu của bạn tự chứng minh chúng bằng cách chỉ ra một sự phát triển nào đó trước khi bạn đầu tư 100% số tiền. 

 

Tránh những loại cổ phiếu phức tạp.

 

Khi bạn mới khởi sự đầu tư, bạn sẽ được nghe rất nhiều về những cơ hội đầy kích thích có thể t́m kiếm những lợi nhuận khổng lồ. Danh sách những cạm bẫy dành cho những con người đang hồ hởi và cả tin bước chân vào thị trường bao gồm chứng khoán nước ngoài, các quỹ đầu tư cố định, hợp đồng quyền chọn, hàng giao theo hẹn, trái phiếu khả hoán (convertible bonds), trái phiếu cấp thấp về giá trị (junk bond), những loại chứng khoán miễn thuế và các công ty bất động sản. 

Những loại chứng khoán trên tuy lợi nhuận cao nhưng rất phức tạp. Nếu bạn không có kinh nghiệm bạn rất dễ gặp phải rủi ro. Những rủi ro khá lớn là lư do chính để những nhà đầu tư mới hoặc những nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm nên tránh đầu tư vào những thứ đă kể trên.

 

Không mua những loại cổ phiếu giá thấp.

 

Những loại cổ phiếu giá thấp thông thường hấp dẫn mọi người với một lư do duy nhất: rẻ. Nhưng trong khi nó đang quyến rũ mọi người mua chúng với giá rẻ th́ hoạt động tài chính của chúng lại rất kém và chậm chạp so với những loại cổ phiếu khác trong ngành.

Đầu tư theo lư tính chứ không phải theo cảm tính.

Trong đầu tư chứng khoán, một sai lầm thường gặp của các nhà đầu tư là họ thường hy vọng khi nên lo ngại và ngược lại. Khi cổ phiếu đă rớt giá 8% dưới giá mua ban đầu và bị thua lỗ, các nhà đầu tư thường hay hy vọng chúng tăng giá trở lại trong khi thực sự họ nên lo ngại rằng có thể sẽ mất thêm một số tiền nữa và nên phản ứng bằng cách bán cổ phiếu đi và chấp nhận thua lỗ thay v́ cứ để mọi thứ y nguyên. Khi cổ phiếu tăng giá và t́m được lợi nhuận, họ lại sợ rằng có thể đánh mất lợi nhuận ấy và bán chúng quá sớm. Nhưng sự thật cổ phiếu đang tăng giá là một dấu hiệu cho thấy chúng thực sự mạnh và có lẽ quyết định mua ban đầu của họ là hoàn toàn chính xác. William J.O’neil, một chuyên gia chứng khoán nổi tiếng trên thị trường phố Wall, chia sẻ những quan điểm: “Theo kinh nghiệm của tôi, cách tốt nhất là thành lập những quy luật mua và bán từ những nghiên cứu về lịch sử thị trường - những quy luật dựa trên nền tảng câu hỏi thực sự thị trường đang hoạt động như thế nào, và trong quá khứ mỗi khi thị trường gặp hoàn cảnh ấy th́ diễn biến như thế nào, những quy luật dựa trên sự thống kê khoa học chứ không phải dựa trên những ư kiến hay thành kiến cá nhân”.

 

Tái đầu tư.

 

Nếu bạn kiếm được 6% lợi nhuận trên 1000 USD trái phiếu và để dành hết số lời này trong năm. Sau 20 năm bạn sẽ nhận được 1200 USD. Nhưng nếu bạn tái đầu tư hết số lợi nhuận này, bạn sẽ có được 2662 USD trong cùng thời gian. Đó là sức mạnh của tái đầu tư - lợi nhuận mẹ sẽ tạo ra lợi nhuận con.

 

Cẩn trọng khi thị trường liên tục xuống dốc.

 

Khi mà thị trường chứng khoán có những biến động dữ dội, người ta bắt đầu đặt câu hỏi: liệu bạn có nên tiếp tục mua cổ phiếu khi giá rớt? Các chuyên gia cũng khuyến cáo rằng, đó là một hành động mang tính rủi ro cực kỳ cao.

Suốt thập kỷ 90, chiến thuật tactic - chiến thuật mua cổ phiếu khi giá rớt, đă tỏ ra hiệu quả. Trong thời gian đó, bất kỳ khi nào, một cổ phiếu nào nói riêng hoặc thị trường nói chung giảm giá th́ các nhà đầu tư lại móc hầu bao ra để mua cổ phiếu vào. Và họ đă kiếm được tiền từ chiến thuật đầu tư này. Thế nhưng, giờ đây khi mà giá cổ phiếu giảm mạnh trong một thời gian dài th́ không phải bất cứ một cổ phiếu nào cũng có thể tăng giá trở lại được. Song, cũng có thể có những viên ngọc bị che khuất trong số những cổ phiếu bị rớt giá. Nghiên cứu của cho thấy, nhiều cổ phiếu sau khi bị cú sốc rớt giá lại tiếp tục trượt dốc dài. Cũng có một số cổ phiếu sau cú sốc đó lại cho mức lăi trung b́nh d­ương trong một số khoảng thời gian quan sát. Điều này chứng tỏ rằng nếu biết lựa chọn danh mục đầu tư một cách khôn ngoan th́ thậm chí ngay cả việc đầu tư vào các cổ phiếu bị cú sốc rớt giá cũng sẽ mang lại lợi nhuận. Một số chuyên gia chứng khoán gợi ư các nhà đầu tư nên đ­a vào danh mục đầu tư của ḿnh từ các công ty bán lẻ; các công ty truyền thông quảng cáo và các công ty dịch vụ cho đến các công ty tài chính lớn. Ngược lại, nên tránh đầu tư vào cổ phiếu của các công ty công nghệ cao, công ty hàng không, dầu mỏ,...

Sau cùng, xây dựng được một kế hoạch đầu tư thích hợp thật không dễ dàng đối với những nhà đầu tư mới bước chân vào thị trường chứng khoán. Bạn cần biết rơ bản thân ḿnh và thử phân tích theo các vấn đề nêu trên trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, bạn cũng không nên áp dụng một cách cứng nhắc mà cần có sự điều chỉnh mục tiêu, chiến lược một cách linh động cho phù hợp với những biến động của thị trường.

 

 

Nhà đầu tư nghiệp dư cần phải quan tâm điều ǵ?

Bạn có đôi chút kiến thức về tài chính, nhưng liệu bạn đă đủ “dũng khí” để tham gia thị trường đầu tư? Bạn biết việc đầu tư sẽ có thể đem lại lợi nhuận không nhỏ, nhưng liệu bạn có chắc chắn rằng ḿnh sẽ không gặp chút “vận đen” nào? Những lời khuyên mà bạn nhận được đă đủ đảm bảo để bạn trở thành nhà đầu tư thành công? Bạn có biết cần phải chú ư đến những yếu tố nào trong thế giới đầu tư không?

 

Nếu bạn cảm thấy c̣n đôi chút băn khoăn hay lúng túng, các chuyên gia đầu tư tài chính của CNN/Money sẽ giúp bạn.

 

Phần 1: Sáng suốt và cẩn trọng

 

1. Đôi khi nhà đầu tư nghiệp dư lại có lợi thế hơn nhà đầu tư chuyên nghiệp. Nhà đầu tư chuyên nghiệp luôn bị ám ảnh bởi những dự đoán rằng liệu họ có đánh bại thị trường hay không. Họ có thể cảm thấy căng thẳng khi nắm giữ hay mua vào tại thời điểm cổ phiếu đang tràn ngập thị trường. C̣n các nhà đầu tư nghiệp dư sẽ không xem xét cẩn thận và nghiên cứu kỹ lưỡng đến như vậy trong các hoạt động đầu tư của ḿnh. Khi thị trường bắt đầu náo động, khó kiểm soát, họ chỉ cần ngồi yên tại chỗ, b́nh tĩnh tập trung vào những mục tiêu dài hạn.

 

2. Đầu tư tiền bạc hợp lư là hành động quan trọng hơn rất nhiều so với việc cố gắng t́m kiếm những Microsoft tiếp theo. Về dài hạn, lợi nhuận mà bạn có được từ việc đầu tư cổ phiếu và trái phiếu sẽ có xu hướng tương thích với mức biến động trung b́nh trên thị trường. V́ vậy, bạn nên phân bổ tài chính hợp lư để quyết định đầu tư bao nhiêu phần vào cổ phiếu và bao nhiêu vào trái phiếu.

 

3. Bạn có thể chia tay với hoạt động đầu tư với khoản tiền lớn và tâm trạng thoải mái mà không cần biết đến việc học thế nào để kiếm được cổ phiếu sinh lợi. Hăy đặt 60% tổng số tiền của bạn vào thị trường cổ phiếu và 40% c̣n lại vào thị trường trái phiếu. Chỉ trong ṿng 10 năm hay lâu hơn một chút, bạn sẽ đạt kết quả tốt hơn phần lớn các nhà đầu tư khác trên thị trường, cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư.

 

4. Tất cả các hoạt động đầu tư đều liên quan đến rủi ro.

 

5. Đa dạng hoá đầu tư là một loại thuốc trợ tim tuyệt vời đối với các nhà đầu tư. Việc trải rộng ḍng vốn của ḿnh ra các loại cổ phiếu và trái phiếu khác nhau là quyết định khôn ngoan. Việc này sẽ giảm thiểu tỷ lệ rủi ro và tăng cơ hội thu thêm lợi nhuận.

 

6. Các nhà đầu tư lăo luyện đều có chung một kết luận là về dài hạn, cổ phiếu sẽ sinh lợi nhiều hơn trái phiếu và trái phiếu hiệu quả hơn tiền mặt. Tuy nhiên, bạn cần cảnh giác, không phải lúc nào nhận định này cũng đúng.

 

7. Hăy chú ư tới sự thoái trào: Các vận động viên thể thao gọi đó là sự xuống phong độ. Đây là thời kỳ mà các vận động viên rơi vào khủng hoàng sau thời kỳ đỉnh cao. Trên thị trường chứng khoán, những điều tương tự thường xảy ra với các công ty tăng trưởng quá nóng. Các nhà đầu tư thường có xu hương vui mừng lao vào những công ty tăng trưởng nhanh, tuy nhiên không ai có thể đi theo cuộc chơi này măi măi, bởi v́ thậm chí những công ty tăng trưởng nhanh nhất cũng có thể rơi vào suy thoái bất cứ lúc nào. Bạn hăy dành nhiều thời gian hơn để suy nghĩ và phân tích về những hiện tượng này, từ đó quyết định xem lúc nào nên lao vào và lúc nào không nên.

 

8. Đừng dùng tiền của ḿnh đầu tư vào thị trường với những mục tiêu đại loại như cố gắng mua được những cổ phiếu với mức giá cao nhất hay thấp nhất. Các nhà nghiên cứu hiện vẫn c̣n đang t́m kiếm một cách thức để xác định chính xác lúc nào thị trường ở mức trần và lúc nào ở mức sàn, nhưng điều này có thể không bao giờ biết được.

 

9. Tỷ lệ trung b́nh đồng vốn đầu tư: Đầu tư với lượng tiền nhất định hàng tháng hay hàng quư trong năm là cách tốt nhất và duy nhất để có thể giữ bạn trên con đường mà ḿnh đă lựa chọn.

 

10. Tái cân bằng. Bạn nên dành 60% tiền bạc của ḿnh đầu tư vào cổ phiếu và 40% vào trái phiếu. Nếu cổ phiếu gặp khủng hoảng và chiếm tới 75% tổng vốn đầu tư của bạn, bạn nên bán bớt chúng đi để tái cân bằng ở mức 60-40. Với cách này, bạn sẽ có thể loại bỏ những cổ phiếu đang trở nên đắt tiền hơn và mua vào loại rẻ tiền hơn. Đó là cách mua rẻ bán đắt.

 

11. Lợi nhuận cao bao giờ cũng gắn liền với rủi ro lớn, tuy nhiên không phải bất cứ rủi ro nào cũng tất yếu dẫn tới lợi nhuận cao. Trước sức hấp dẫn của các khoản lợi nhuận khổng lồ, một nhà đầu tư thông minh sẽ không dấn thân một cách mạo hiểm vào những vụ đầu tư nếu anh ta không nh́n thấy sự an toàn tối đa. Trong quăng thời gian “chú ḅ” thị trường chứng khoán được nuôi lớn thái quá, bạn có thể mất tiền từ niềm đam mê cổ phiếu của ḿnh, hay đơn giản là công ty mà bạn cho rằng sẽ thành công có thể nổ tung bất cứ lúc nào.

 

12. Bạn có thể không biết ḿnh phải đối mặt với những rủi ro nào, cho đến khi bạn hứng chịu những mất mát thực sự. Cũng giống như các trường hợp ngộ độc thực phẩm, rủi ro là một cái ǵ đó rất khó để hiểu về mặt lư thuyết. Một sự thật khó nghe đó là Nasdaq đă “chôn vùi” không biết bao nhiêu nhà đầu tư công nghệ, những người nghĩ rằng ḿnh không thể bị tổn thương.

 

13. Quy tắc 72. Một mánh khóe để tính toán xem bạn sẽ cần bao nhiêu thời gian để nhân đôi số tiền của ḿnh. Ví dụ bạn phải mất bao nhiêu năm để khoản tiền 1000 đồng chuyển thành 2000 đồng ở mức lợi nhuận 8%? Hăy lấy 72 chia cho 8, bạn có 9 năm. Từ ví dụ này, bạn có thể tính toán cho ḿnh khoảng thời gian sinh lợi nhuận.

 

14. Tái đầu tư. Nếu bạn kiếm được 6% lợi nhuận trên 1000 đồng trái phiếu và để dành hết số tiền lời này, th́ sau 20 năm, bạn sẽ có 1200 đồng. Nhưng nếu bạn tái đầu tư hết số lợi nhuận thu được, bạn sẽ có 2662 đồng cũng sau 20 năm. Đó là sức mạnh của tái đầu tư - lợi nhuận mẹ sẽ sinh ra lợi nhuận con.

 

15. Bắt đầu sớm. Đối với hoạt động đầu tư, bạn càng dành thời gian cho nó nhiều bao nhiêu, bạn sẽ càng thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu.

 

16. Dành dụm nhiều hơn: Một cách khác để tăng thêm lợi nhuận đó là dành dụm thêm một khoản tiền nhỏ nhất định mỗi tháng để đầu tư. Cùng với thời gian, những đồng tiền đó sẽ sinh sôi thành hàng ngh́n đồng khác.

 

17. Khi bạn đặt kế hoạch cho những mục tiêu dài hạn, bạn hăy đảm bảo rằng toàn bộ số vốn đầu tư của bạn sẽ sinh lời 5% đến 6%/năm.

 

18. Khi bạn mua một cổ phiếu, bạn nghĩ nó sẽ đem lại lợi nhuận cho bạn, nhưng bạn cần nhớ rằng bạn đă mua những cổ phiếu này từ một người nào đó cũng đang cảm thấy măn nguyện khi bán được chúng.

 

19. Đừng dựa vào các cơ quan quản lư. Các nhà đầu tư cần có cái nh́n tỉnh táo và thực tế về những ǵ chính phủ có thể làm và những ǵ không thể. Các cơ quan quản lư chắc chắn sẽ đẩy mạnh việc t́m ra các gian lận và buộc các công ty phải phơi bày thông tin nhiều hơn và minh bạch hơn. Nhưng các nhà đầu tư thường sử dụng một cách không hiệu quả những thông tin mà họ có được từ sự công khai đó. Bao nhiêu nhà đầu tư đă từng thực sự đọc và phân tích những tường tŕnh trong bản cáo bạch IPO thường niên trước khi ra quyết định đầu tư? Không có quy định nào buộc các nhà đầu tư phải quyết định thận trọng hay giữ thị trường khỏi suy thoái.

 

20. Đừng để những mối quan tâm về thuế ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của bạn.

 

21. Bạn muốn tăng lợi nhuận kiếm được? Nếu bạn xem TV vào buổi trưa, tốt hơn hết bạn đừng nên xem những thông tin về tài chính kinh doanh. Bạn thực sự không cần biết những ǵ xảy ra với cổ phiếu của các công ty, thay vào đó hăy xem chương tŕnh mà bạn yêu thích. Đơn giản là v́ lúc này bạn không cần những cái nh́n và phân tích bên trong nhằm tránh cho bạn những cám dỗ lôi kéo ḿnh vào những vụ đầu tư mới với rủi ro cao hơn nhiều.

 

22. Ở đây có sự khác biệt giữa đầu tư và đầu cơ: các nhà đầu tư thường thích mua cổ phiếu như một thương vụ kinh doanh và sẽ nắm giữ trong thời gian dài, c̣n các nhà đầu cơ nh́n cổ phiếu như những tờ giấy và họ mua chúng với hy vọng một ai đó sẽ trả giá cao hơn.

 

23. T́nh h́nh tăng trưởng của công ty sẽ điều khiển giá cổ phiếu. Có thể có sự khác biệt khá lớn về giá cổ phiếu từ năm này qua năm khác, nhưng về lâu dài, giá cổ phiếu sẽ biến động dựa trên doanh thu và lợi nhuận của công ty - nếu lợi nhuận ngày một thu hẹp th́ giá cổ phiếu sẽ giảm, c̣n nếu lợi nhuận càng lúc càng lớn hơn th́ đương nhiên giá cổ phiếu cũng sẽ tăng cao.

 

24. Trước khi quyết định mua một cổ phiếu nào đó, bạn hăy chuẩn bị “bài diễn văn tóm tắt” để thuyết phục chính bản thân bạn, cô vợ đa nghi, con chó của bạn, hay bất kỳ ai và giải thích tại sao bạn muốn mua cổ phiếu. Đó có phải là một cổ phiếu tăng trưởng nhanh, ổn định và sẽ tạo nên một kỳ tích về doanh thu? Liệu chiến lược đầu tư bạn đưa ra có hợp lư? Liệu bản cân đối tài chính của công ty đó đă đủ lành mạnh? Liệu công ty này có thắng thế trước các đối thủ cạnh tranh? Đơn giản khi bạn nói ra những điều này, bạn sẽ phải tập trung hơn vào những ǵ bạn nghĩ và những ǵ bạn đă nghiên cứu, phân tích. Cuối cùng, việc này có thể giúp bạn tránh những rủi ro thua lỗ.

 

25. Khi bạn đă dành vài phút để suy nghĩ, bạn hăy dành tiếp mấy phút nữa để tự hỏi tại sao bạn không nên mua cổ phiếu đó. Liệu công ty có ch́m sâu trong nợ nần? Liệu vị CEO có đáng tin cậy không hay sẽ “lẩn như trạch” khi có rắc rối? Liệu giá cổ phiếu có quá đắt để mua? Việc nắm bắt những thông tin đó không những sẽ giúp bạn hiểu hơn về công ty, mà c̣n giúp bạn tính toán được thời điểm nên bán cổ phiếu đi.

 

26. Những công ty lớn không nhất thiết sẽ tạo ra những cổ phiếu đáng để mua. Đơn giản là v́ nếu bạn chỉ đầu tư vào những công ty đang dẫn đầu thị trường, th́ thu nhập của bạn có thể sẽ rất cao, tuy nhiên, một khi những công ty lớn rơi vào khủng hoảng, th́ thu nhập của bạn có thể bị khủng hoảng nặng nề hơn nhiều.

 

27. Cổ phiếu 20 đồng có thể quá đắt - Cổ phiếu 100 đồng lại có thể quá rẻ. Bạn hăy tính toán, nhưng không chỉ là giá mỗi cổ phiếu, mà là lượng tiền bạn thu được từ mỗi đồng tiền trong doanh thu, lợi nhuận, tài sản và tiền mặt lưu thông của công ty mà bạn đầu tư vào. Điều này bạn có thể biết được từ các tỷ lệ đánh giá cổ phiếu sau đây.

 

28-31. Bốn cách để đánh giá một cổ phiếu

- Tỷ lệ giá/lợi nhuận (P/E): Cho đến nay, đây vẫn là tỷ lệ đánh giá cổ phiếu được sử dụng phố biến nhất, bởi v́ nó cho biết bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đồng lợi nhuận của công ty.

- Tỷ lệ giá/doanh thu (P/S): Chỉ số này có thể được sử dụng để nhận ra những công ty có mạng lưới kinh doanh ổn định, nhưng lợi nhuận có thể giảm sút sau quá tŕnh tăng trưởng quá nóng.

- Tỷ lệ giá/lưu lượng tiền mặt (P/C). Con số doanh thu và lợi nhuận mà công ty báo cáo là sản phẩm của những quy tắc tính toán phức tạp, do đó số liệu có thể bị sai lệch. Lưu lượng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh có thể vẽ nên bức tranh chân thực hơn.

- Tỷ lệ giá/giá trị sổ sách (P/B): Tỷ lệ này được dùng để đánh giá toàn bộ máy móc, thiết bị và các tài sản khác, thường được sử dụng khi nhà đầu tư t́m kiếm các mục tiêu tiếp quản.

 

32. Sự khác biệt giữa chỉ số Forward P/E và Trailing P/E. Chỉ số Trailing P/E được dựa trên doanh thu trong năm hiện tại hay bốn quư gần nhất của công ty. C̣n chỉ số Forward P/E là ước đoán dựa trên doanh thu mong đợi của công ty trong năm tiếp theo hay bốn quư sắp tới.

 

33. Sự khác biệt giữa cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu giá trị. Một cổ phiếu tăng trưởng sẽ hứa hẹn một lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, trong khi đó một cổ phiếu giá trị có tính thanh khoản cao, bạn có thể bán bất cứ lúc nào với mức giá cao hơn hay thấp hơn giá trị thực của chúng. Cổ phiếu tăng trưởng thường là cổ phiếu của các hăng dầu mỏ c̣n cổ phiếu giá trị là cổ phiếu của các hăng tiêu dùng luôn có doanh thu và lợi nhuận ổn định, mức độ tin cậy cao. Về dài hạn, cổ phiếu giá trị có mức tăng trưởng chậm hơn, một phần v́ chúng có chiều hướng được mua để đầu cơ trên thị trường.

 

34. Cách tốt nhất để t́m kiếm cổ phiếu tăng trưởng giá rẻ. Để trả lời câu hỏi liệu một cổ phiếu tăng trưởng hiện có được rao bán ở mức giá hợp lư hay không, bạn hăy xem tỷ lệ PEG. Để tính toán tỷ lệ PEG của một công ty, bạn hăy chia tỷ lệ P/E với tỷ lệ tăng trưởng doanh thu dự đoán. Nếu tỷ lệ PEG thấp hơn 1,2 nghĩa là cổ phiếu đó là cơ hội tốt để đầu tư.

 

35. Bạn có thể bắt đầu xây dựng danh mục đầu tư các cổ phiếu dài hạn chỉ với 9 công ty. Khi xây dựng một danh mục đầu tư cơ bản, bạn hăy bắt đầu với những công ty lớn có mặt trong 5 lĩnh vực công nghiệp tăng trưởng năng động nhanh nhất. Ví dụ, bạn có thể lựa chọn A trong lĩnh vực công nghệ, B trong lĩnh vực dược phẩm, C trong lĩnh vực dịch vụ tài chính…

 

36. Đừng đặt quá 10% vốn đầu tư bạn có vào cổ phiếu của chính công ty bạn. Nếu bạn buộc phải nắm giữ một số lượng lớn hơn 10% - có thể do những quy định của công ty - bạn hăy cố phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào những lĩnh vực khác ổn định hơn lĩnh vực của bạn. Ví dụ, nếu bạn làm việc cho một công ty công nghệ cao, hăy kiếm cho ḿnh những cổ phiếu của các công ty công nghiệp trả cổ tức cố định.

 

37. Đừng đặt quá 10% vốn đầu tư cổ phiếu của bạn vào một công ty. Những bài học lớn như Enron và WorldCom là minh chứng rơ nét cho nhận định rằng: một danh mục đầu tư quá tập trung sẽ giá tăng sự mất ổn định và tăng rủi ro thua lỗ.

 

38. Sự phân tán cổ phiếu cũng không làm bạn trở nên giàu có. Việc chia tách cổ phiếu để đầu tư là cần thiết, nhưng việc phân tán quá rộng lại rất có thể phản tác dụng. Khi bạn chia tách cổ phiếu để đầu tư, bạn cũng sẽ không giàu hơn hay nghèo hơn chính bạn trước đây. Ví dụ, sau khi phân tán cổ phiếu, bạn kết thúc năm tài chính với số lượng cổ phiếu nhiều gấp đôi, nhưng chúng được giao dịch với giá chỉ bằng một nửa. Tuy nhiên, một vài nhà đầu tư nh́n nhận việc phân tán là dấu hiệu của việc đa dạng hoá đầu tư tới nhiều công ty hấp dẫn hơn. Nhưng rồi, các nghiên cứu cho thấy rằng cổ phiếu được phân tán thường ít đem lại lợi nhuận hơn so với việc không phân tán, nếu thời gian đầu tư của bạn chỉ từ một đến hai năm.

 

39. T́m kiếm thông tin để t́m hiểu về công ty bằng cách đọc các báo cáo tài chính hàng quư hay hàng năm. Bạn cũng có thể t́m kiếm các thông tin về các công ty trên Internet hay trang web của cơ quan quản lư thị trường chứng khoán.

 

40. Theo sát chỉ số thị trường chứng khoán. Đây là chiến lược để mua lại những cổ phiếu có giá trị sinh lời cao nhất vào mỗi tháng 1 đầu năm. Bạn giữ chúng trong một năm, sau đó bán đi những cổ phiếu sa sút nhất trong bản danh sách và mua một cổ phiếu khác thay thế.

 

41. IPO sẽ không như mong đợi. Trong thời kỳ hoàng kim của các công ty Internet, mọi người đều muốn lao vào các đợt phát hành chứng khoán ra công chúng (IPO). Tuy nhiên, IPO không đem lại kết quả về lâu dài. Những cổ phiếu này thường đem lại phần lớn lợi nhuận trong những những ngày giao dịch đầu tiên, sau đó, các đợt phát hành mới sẽ chỉ “́ ạch” trên thị trường trong những năm tiếp theo.

 

42-45. Bốn lư do đúng đắn để bán cổ phiếu. Bạn đừng bán cổ phiếu chỉ v́ chúng sụt giá hay v́ thị trường có dấu hiệu đi xuống. Những lư do để bán cổ phiếu đi là:

 

- Thứ nhất, một vài yếu tố quan trọng về hoạt động kinh doanh hay triển vọng lợi nhuận của công ty đă thay đổi so với thời điểm bạn mua chúng.

- Thứ hai, bạn nhận ra rằng những nhận định, đánh giá trước đây của bạn về hoạt động kinh doanh và triển vọng lợi nhuận của công ty là sai lầm.

- Thứ ba, công ty bạn đầu tư đang cho thấy họ hoạt động quá tốt so với mong đợi – giá cổ phiếu tăng trên mức mà bạn tin rằng phản ánh giá trị thực của công ty.

- Thứ tư, cổ phiếu nào đó hiện đang chiếm một phần quá lớn trong danh mục đầu tư của bạn khiến rủi ro tăng cao.

 

46. Bạn giao dịch càng nhiều, lợi nhuận bạn thu được dường như sẽ càng ít đi. Bạn mua và bán càng nhiều, danh mục đầu tư của bạn sẽ phải chịu chi phí giao dịch càng cao hơn. Thử nghĩ xem liệu bạn có đánh bại thị trường bằng những ư tưởng thông minh không? Một nghiên cứu cho thấy các nhà quản lư quỹ thường không tăng lợi nhuận bằng các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nếu các giao dịch thường xuyên gây thiệt hại cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, th́ nó cũng có thể ảnh hưởng xấu đến bạn.

 

47. Đầu tư quá giới hạn cho phép. Bạn vay tiền từ những nhà môi giới và trả lăi suất để mua thêm cổ phiếu. Điều này dường như sẽ mang lại lợi nhuận nhiều hơn, nhưng đồng thời thua lỗ cũng có thể lớn hơn. Nếu cổ phiếu bạn nắm giữ xuống thấp dưới mức nào đó, nhà môi giới của bạn sẽ yêu cầu bạn hoàn trả lại một phần hay toàn bộ khoản nợ ngay lập tức. Do đó, mua ngoài giới hạn của bản thân là một rủi ro mà các nhà đầu tư nghiệp dư nên tránh xa.

 

48. Thế nào là đầu tư short-selling?. Nhà đầu tư “short-seller” sẽ mượn cổ phiếu từ một nhà môi giới để bán với hy vọng cổ phiếu này sẽ xuống giá và anh ta có thể mua lại với giá thấp hơn. Tuy nhiên, chi phí cao, tiềm năng thua lỗ lớn và thậm chí giá cổ phiếu tăng sau một thời kỳ dài đóng băng sẽ khiến mong muốn thu lại cổ phiếu của những nhà đầu tư “short-seller” trở nên viển vông. Đây là một điều mà bạn nên tránh.

 

49. Sự khác biệt giữa lệnh thị trường và lệnh giới hạn. Khi bạn ra một lệnh trên thị trường chứng khoán với nhà môi giới của bạn, bạn đang yêu cầu bán hay mua cổ phiếu ở một mức giá khớp lệnh. C̣n lệnh giới hạn hướng nhà môi giới mua và bán cổ phiếu ở mức giá cụ thể nào đó, th́ mức giá này được sử dụng như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ bạn trong một thị trường thường xuyên biến động. Nếu cổ phiếu không đạt tới giá đó, sẽ không có giao dịch nào được thực hiện.

 

50. Những quy tắc cơ bản của đầu tư trái phiếu. Giá trái phiếu sẽ giảm khi tỷ lệ lăi suất tăng và ngược lại. Tại sao? Nếu bạn sở hữu trái phiếu có mức trả lăi 6% và tỷ lệ lăi suất tăng,  lúc này, trái phiếu sẽ có mức trả lăi 7% , do vậy trái phiếu 6% của bạn sẽ mất giá.

 

51. Nếu bạn đầu tư trái phiếu và giữ chúng cho đến đúng kỳ hạn thanh toán, bạn sẽ không bao giờ mất tiền. Trái phiếu chính phủ, ngân phiếu không bao giờ vỡ nợ. Trái phiếu đô thị và trái phiếu công ty cũng hiếm khi vỡ nợ (tỷ lệ vỡ nợ dài hạn chỉ khoảng trên dưới 1% đến 2%).

 

52. Bán cổ phiếu trước khi đến hạn thanh toán có thể là một sai lầm. Cổ phiếu không như trái phiếu – chúng không được giao dịch mọi ngày và cũng sẽ không có nhiều người sẵn sàng mua trái phiếu khi bạn muốn bán chúng đi. V́ vậy, nếu bạn buộc phải bán trái phiếu, bạn có thể phải chấp nhận chịu thiệt một số tiền nhất định.

 

53. Làm thế nào để vừa có tiền vừa không thua lỗ? Trong danh mục đầu tư trái phiếu, bạn nên nắm giữ nhiều cổ phiếu với các kỳ hạn thanh toán khác nhau để bạn có thể có tiền vào bất cứ năm nào. Điều này cho phép bạn tận dụng lợi ích từ tỷ lệ lăi suất cao để mua trái phiếu khác, đồng thời giảm thiểu rủi ro.

 

54. Bạn có thể mất tiền nếu đầu tư vào các Quỹ đầu tư trái phiếu. Hàng ngày, giá trị của các cổ phiếu trong danh mục đầu tư trái phiếu luôn biến động, phụ thuộc vào sự dao động của tỷ lệ lăi suất và các yếu tố khác. Do đó, giá trị tài sản toàn Quỹ đầu tư trái phiếu cũng thay đổi theo. V́ vậy, khi bạn bán cổ phiếu của Quỹ đầu tư trái phiếu, giá cổ phiếu sẽ có thể thấp hơn – hay cao hơn – so với thời điểm bạn mua chúng.

 

55. Thế nào là trái phiếu Zero-coupon. Trái phiếu Zero-coupon (cuống phiếu bằng không) sẽ không có lăi suất, thay vào đó, bạn mua trái phiếu với mức giá thấp hơn giá danh nghĩa. Khi cổ phiếu đến hạn, bạn sẽ nhận lại khoản tiền đó bao gồm khoản tiền đầu tư ban đầu cộng thêm số tiền chênh ra từ giá gốc cổ phiếu so với giá mua. Ví dụ, bạn có thể phải trả 6659 đồng và nhận 10 ngàn đồng trái phiếu zero-coupon có lợi tức 4,15% và hạn thanh toán trong 10 năm.

 

56. Cuống phiếu (Coupon). Đây là mức lăi suất cố định mà bạn có thể nhận được mỗi năm từ số cổ phiếu nắm giữ.

 

57. Giá trị trung b́nh (Par value). Mức giá này được hiểu như giá trị danh nghĩa của trái phiếu, đó là lượng tiền mà một nhà phát hành trái phiếu đồng ư trả khi đến hạn thanh toán. Thông thường, trái phiếu được giao dịch ở mức cao hơn hay thấp hơn giá trị trung b́nh.

 

58. Tại sao các Quỹ hỗ tương luôn thành công? Câu trả lời là do không có nơi nào khác đề xuất những phương án đầu tư đa dạng và tiện lợi như vậy. Các Quỹ này cung cấp một hướng đầu tư chi phí thấp cho các nhà đầu tư cá nhân mới vào nghề, giúp họ làm quen với thị trường, tạo đà cho họ trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp sau này. Với các Quỹ hỗ tương, bạn có thể tiến hành các vụ đầu tư mà không cần bỏ chi phí hoa hồng môi giới, việc mà bạn không thể làm khi trực tiếp đầu tư vào cổ phiếu.

 

59. Với thời gian, các Quỹ đầu tư nóng có thể sẽ nguội lạnh dần, nhưng chi phí đầu tư bao giờ cũng được giữ ở mức thấp. Thông thường, bạn chỉ phải mất chi phí khoảng 2% đến 2,5% mỗi năm.

 

60. Làm thế nào để lựa chọn một Quỹ đầu tư? Việc bạn vội vă bắt tay một Quỹ đầu tư chỉ v́ biểu đồ tăng trưởng mạnh trong vài tháng gần đây dường như là cách để bạn tự “đốt” những đồng tiền của ḿnh. Thay vào đó, bạn hăy tập trung nhiều hơn vào các Quỹ đầu tư có thể dự đoán được xu hướng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn một Quỹ đầu tư nào đó, bạn nên dành chút ít thời gian nghiên cứu về nó, t́m hiểu hoạt động và cơ cấu tổ chức, các cổ phiếu mà Quỹ sở hữu… Và chắc bạn sẽ không muốn một Quỹ đầu tư mà cứ một vài năm lại thay một nhà quản lư mới.

 

61. Khi bạn đầu tư vào các Quỹ hỗ tương, sẽ có một khoản bạn phải chịu là phí bán (sales charges). Nếu bạn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư thông qua một nhà môi giới hay do một chuyên gia nào đó khuyên bạn nên làm như vậy, bạn sẽ phải trả chi phí được gọi là phí bán, đây là mức hoa hồng dành cho họ v́ những lợi nhuận bạn có được. 

 

62. “Phí bán” hoạt động như thế nào? Quỹ đầu tư chung chào bán theo giá trị ṛng hoặc giá trị ṛng cộng với một khoản phí bán, mà trong ngành thường gọi là load (gánh nặng). V́ vậy mà những quỹ này được gọi là quỹ có tính phí bán (load-fund). Những cổ phần nào chào bán theo giá trị ṛng (không cộng thêm phí bán) th́ người phân phối của quỹ đầu tư trực tiếp đảm nhận việc thực hiện. Cũng có thể việc này được một nhóm người hăng hái trong ban giám đốc làm. Những người này không có một lực lượng bán hàng ăn hoa hồng và họ sẽ đầu tư toàn bộ số tiền nhà đầu tư kư gửi. V́ vậy mà những quỹ này được gọi là quỹ không tính phí bán (no load-funds), phát triển rất nhanh về số lượng cũng như giá trị tài sản được quản lư.

 

63. Cách tốt nhất để sử dụng Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành (Sector funds): Nếu bạn có một danh mục đầu tư đa dạng, có nghĩa là bạn đang sở hữu cổ phiếu công nghệ, cổ phiếu công ty chăm sóc sức khoẻ và cổ phiếu tài chính,… Nếu đơn thuần tham gia vào những Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành, bạn sẽ làm mất cân bằng cán cân đầu tư của ḿnh. Thay vào đó, bạn hăy dành một lượng nhỏ vốn đầu tư, từ 5% đến 10% chẳng hạn, cho các quỹ như Quỹ đầu tư bất động sản.

 

64. Sở hữu trong tay cổ phiếu của 10 Quỹ hỗ tương không đồng nghĩa với việc bạn đang đa dạng hoá danh mục đầu tư của ḿnh. Đa dạng hoá có nghĩa là nhiều cổ phiếu trong các lĩnh vực khác nhau.

 

65. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) làm ǵ? FED luôn cố gắng đảm bảo và duy tŕ sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng, giá cả ổn định và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Một trong những công cụ quan trọng nhất của FED là điều chỉnh lăi suất cho vay giữa các ngân hàng và tăng hay giảm nguồn cung tiền quốc gia.

 

66. Tại sao những ǵ FED làm lại rất quan trọng? FED có ảnh hưởng lớn đến định hướng kinh tế và tỷ lệ lăi suất. Tỷ lệ lăi suất thấp hay giảm sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu. Nhưng nếu các nhà đầu tư nghĩ rằng FED có kế hoạch tăng lăi suất, họ sẽ bán cổ phiếu v́ mức lăi suất dẫn đến xu hướng lượng tiền gửi ngân hàng tăng, nền kinh tế tăng trưởng chậm và ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Khi FED tăng tỷ lệ lăi suất, ngay lập tức giá cổ phiếu tại phố Wall đă sụt giảm, do tỷ lệ lăi suất cao sẽ hạn chế việc các công ty vay tiền để đầu tư cho những dự án kinh doanh mới. Và khi đó, trái phiếu sẽ được quan tâm hơn.

 

67. Bạn sẽ mất những khoản tiền nào? Khi đầu tư, bạn phải trả một khoản tiền nhất định cho các sự trợ giúp. Khoản tiền này là hoa hồng môi giới, phí bán của quỹ đầu tư hay chi phí tư vấn… Trên thị trường chứng khoán có nhiều chuyên gia sẵn sàng giúp bạn lập kế hoạch đầu tư, danh mục đầu tư, những chuyên gia này sẽ lấy đi của bạn khoảng 1% đến 2% tổng số tiền trong danh mục đầu tư.

 

68. Phàn nàn và khiếu nại như thế nào? Nếu nhà môi giới hay nhà kinh doanh chứng khoán làm việc cho một công ty nào đó, đầu tiên bạn hăy khiếu nại bằng văn bản tới công ty của anh ta. Nếu bạn nghi ngờ việc vi phạm một quy định pháp luật về chứng khoán, bạn hăy liên hệ trực tiếp với Ủy ban chứng khoán nhà nước. Bạn có thể vào trang nasaa.org. để t́m những hướng dẫn khiếu nại bằng văn bản cùng những tài liệu cần thiết cho việc chứng minh.

 

69. Những trang web hữu ích. Nơi tốt nhất để khởi đầu cho vệc t́m kiếm và phân tích thông tin là trang www.money.com. Sau đó, để đáp ứng những nhu cầu đầu tư khác của bạn, bạn có thể vào từng trang tài chính riêng lẻ có nội dung mà bạn quan tâm. Tại các địa chỉ như CNN/Money (money.cnn.com), MSN Money (moneycentral.com) hay Yahoo Finance (finance.yahoo.com) sẽ có những thông tin tài chính được cấp nhập liên tục. Mỗi trang sẽ cung cấp những thông tin khác nhau về thị trường tài chính, nguồn và các công cụ thực thi như: t́m kiếm danh mục đầu tư, chào giá, tin tức về các công ty, phân tích thị trường, biểu đồ, giá cổ phiếu, dự đoán doanh thu, thông báo kinh doanh nội bộ và dữ liệu IPO... 

 

Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư cũng rất thích trang ww.financenter.com v́ những công cụ tính toán và phân tích ấn tượng của nó. Một trang web lớn để các nhà đầu tư làm quen với các quy định và thuật ngữ đầu tư là trang www.investorwords.com, nơi mà có hẳn một từ điển tài chính với trên 6000 định nghĩa và nhiều mục từ tham khảo khác.

 

 

Kinh doanh chứng khoán trên mạng - được và mất

Đầu tư chứng khoán là nghề có thể mang lại cho bạn nhiều lợi nhuận, song, đó cũng là nghề khiến bạn có thể trở nên khánh gia bại sản trong một thời gian nhanh nhất. Hẳn bạn c̣n nhớ vụ một tên sát nhân tại Mỹ đă giết hại 12 người và sau đó tự sát chỉ v́ thua lỗ trong đầu tư chứng khoán trên mạng Internet? Đầu tư chứng khoán là một cuộc chơi không dễ dàng, nếu không muốn nói là khắc nghiệt .Tuy nhiên, đó cũng là nghề hấp dẫn những ai có bản lĩnh, có đầu óc phân tích tốt và biết chấp nhận rủi ro, c̣n mất…

 

Giới kinh doanh nói chung và các nhà đầu tư chứng khoán nói riêng không xa lạ ǵ về mối tương quan tỷ lệ thuận giữa mức độ rủi ro và lợi nhuận. Thế nhưng, không phải cứ liều lĩnh là được.Với lịch sử phát triển hàng trăm năm, thị trường chứng khoán toàn cầu luôn không ngừng thay đổi. Chúng ta đă biết đến nhiều loại thị trường chứng khoán khác nhau như thị trường quyền chọn, thị trường tương lai, thị trường công cụ nợ... Tuy nhiên, để đầu tư thế nào cho hiệu quả – đó là câu hỏi khiến người chơi chứng khóan đau đầu.

 

Và rồi, khi thị trường phát triển cùng với một loạt các quy định mới và đặc biệt là sự ra đời của Internet, câu trả lời đă xuất hiện. Ngày nay, mọi người có thể tự do đầu tư chứng khoán mà không cần có mặt cũng như không phải trực tiếp liên lạc với các nhân viên môi giới đầu tư. Sự tiện lợi này đang ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư hơn vào thị trường chứng khoán, từ những cụ già đă về hưu với đồng lương ít ỏi đến một doanh nhân thành đạt nhưng vẫn muốn làm giàu thêm nữa, một sinh viên mới tốt nghiệp đại học cho đến một công nhân sửa ống nước muốn có thêm tiền lo gia cho gia đ́nh. Bất kể ai có quan tâm đến vấn đề này đều có thể trở thành nhà đầu tư chứng khoán trên mạng, miễn là họ có một số vốn tối thiểu. Thường th́ họ tham gia vào việc kinh doanh cổ phiếu qua Internet theo kiểu “mua đứt bán đoạn” ngay trong một phiên giao dịchcủa thị trường chứng khoán. Thông thường, hoạt động này của họ được qua một công ty cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán trên mạng Internet.

 

Đầu tư chứng khoán trên mạng luôn là một h́nh thức đầu tư khá tiện lợi. Thông tin về nhiều công ty, các nhà môi giới chứng khoán, bản tin thị trường cùng lời khuyên của các chuyên gia thường được cung cấp hoàn toàn miễn phí. Chỉ cần một máy vi tính với kết nối Internet, ngồi bất kể tại đâu trên thế giới, bạn cũng có thể làm một cuộc kinh doanh cổ phiếu trên mạng. C̣n đối với những ai muốn kiếm nhiều tiền hơn th́ có thể bỏ công việc hiện tại của ḿnh để trở thành một nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Những hoạt động đầu tư chứng khoán qua Internet đang ngày một phát triển tại hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới.

 

Đầu tư chứng khoán trên mạng luôn là một h́nh thức đầu tư khá tiện lợi. Thông tin về nhiều công ty, các nhà môi giới chứng khoán, bản tin thị trường cùng lời khuyên của các chuyên gia thường được cung cấp hoàn toàn miễn phí. Chỉ cần một máy vi tính với kết nối Internet, ngồi bất kể tại đâu trên thế giới, bạn cũng có thể làm một cuộc kinh doanh cổ phiếu trên mạng. C̣n đối với những ai muốn kiếm nhiều tiền hơn th́ có thể bỏ công việc hiện tại của ḿnh để trở thành một nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Những hoạt động đầu tư chứng khoán qua Internet đang ngày một phát triển tại hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới.

 

Công cụ đầu tư của những nhà đầu tư chứng khoán tự do qua Internet không khác mấy so với các nhân viên môi giới và kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp, bao gồm máy điện thoại, màn h́nh máy vi tính với đầy đủ các thông tin về giá cả, các bản tin thị trường, bản tin tài chính,… Với các công cụ này, mọi người có thể thực hiện hàng trăm cuộc mua bán chứng khoán chỉ trong ṿng một ngày. Dù bạn có ngồi ở nhà hay ở văn pḥng làm việc th́ bạn vẫn có thể tham gia giao dịch chứng khoán trong ngày bằng việc truy cập vào Internet.

 

Công cụ đầu tư của những nhà đầu tư chứng khoán tự do qua Internet không khác mấy so với các nhân viên môi giới và kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp, bao gồm máy điện thoại, màn h́nh máy vi tính với đầy đủ các thông tin về giá cả, các bản tin thị trường, bản tin tài chính,… Với các công cụ này, mọi người có thể thực hiện hàng trăm cuộc mua bán chứng khoán chỉ trong ṿng một ngày. Dù bạn có ngồi ở nhà hay ở văn pḥng làm việc th́ bạn vẫn có thể tham gia giao dịch chứng khoán trong ngày bằng việc truy cập vào Internet.

 

Tuy nhiên, sau một số thành công nhất định trên Internet, bạn tự hào rằng ḿnh là nhà đầu tư có năng lực, hiểu biết về chứng khoán. Sự thật có đúng như vậy không? Bạn hăy nên cẩn thận bởi chứng khoán là một trong những công cụ tài chính phức tạp và khó kiểm soát nhất. Những công thức tính toán phức tạp trong đầu tư chứng khoán vẫn có thể làm những nhà đầu tư lăo luyện mắc sai lầm.

 

Phương thức đầu tư chứng khoán trên Internet theo nhiều chuyên gia đánh giá là sẽ rất dễ làm bạn “nghèo đi nhanh chóng”, đôi khi lợi nhuận sau một ngày mua bán trên thị trường chỉ đủ để trả tiền hoa hồng cho công ty Internet mà bạn mở tài khoản. Ngoài ra, do phương thức này chủ yếu giao dịch theo ngày nên bạn thường không có đủ sự gan ĺ, nhanh nhẹn, sự suy đoán thần tốc và tính kiên nhẫn để kịp thời quyết định bán lúc nào, mua lúc nào, V́ thế nhiều khi bạn mất khá nhiều tiền trong một ngày. Có thể nói, nếu không đủ tỉnh táo th́ không ít trường hợp bạn sẽ sạt nghiệp hay mắc nợ lớn chỉ sau vài giây với phương thức đầu tư tiện dụng và đầy ma lực hấp dẫn này.

 

“Khi đầu tư vào một công việc có quá nhiều rủi ro, bạn dễ có khuynh hướng hành động theo cảm tính ”, một nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp tại phố Wall đă nh́n nhận như vậy về các nhà đầu tư “tự do tác chiến”không thông qua sự trợ giúp,chỉ dẫn của các chuyên gia môi giới chứng khoán. Một nhà tâm lư học chứng khoán tại Mỹ cho biết: “Cũng giống như tṛ đỏ đen, thường khi thua thiệt trong đầu tư cổ phiếu, người ta lại càng cố dấn lên ḥng gỡ gạc lại những ǵ đă mất, tuy nhiên, nhiều khi, nếu không tỉnh táo, bạn sẽ trở thành con nợcủa chính ḿnh. Một lúc nào đó, bạn sẽ mất hết cả ch́ lẫn chài, tài sản, tiền tiết kiệm, ...và rơi vào cảm giác thất bại, vô dụng...Bi kịch của những tay chơi ‘bán trời không văn tự” thường diễn ra như vậy”.

 

“Khi đầu tư vào một công việc có quá nhiều rủi ro, bạn dễ có khuynh hướng hành động theo cảm tính ”, một nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp tại phố Wall đă nh́n nhận như vậy về các nhà đầu tư “tự do tác chiến”không thông qua sự trợ giúp,chỉ dẫn của các chuyên gia môi giới chứng khoán. Một nhà tâm lư học chứng khoán tại Mỹ cho biết: “Cũng giống như tṛ đỏ đen, thường khi thua thiệt trong đầu tư cổ phiếu, người ta lại càng cố dấn lên ḥng gỡ gạc lại những ǵ đă mất, tuy nhiên, nhiều khi, nếu không tỉnh táo, bạn sẽ trở thành con nợcủa chính ḿnh. Một lúc nào đó, bạn sẽ mất hết cả ch́ lẫn chài, tài sản, tiền tiết kiệm, ...và rơi vào cảm giác thất bại, vô dụng...Bi kịch của những tay chơi ‘bán trời không văn tự” thường diễn ra như vậy”.

 

Lo ngại trước sự bùng nổ không thể kiểm soát được đối với hoạt động đầu tư “mua đứt bán đoạn” qua Internet của các nhà đầu tư độc lập thuộc mọi thành phần, Hiệp hội quốc gia các nhà mua bán chứng khoán Mỹ (NASD) đă yêu cầu các công ty cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán trên Internet cho các nhà đầu tư độc lập phải công bố rơ về mọi rủi ro của việc tự đầu tư này để mọi người được biết. Ngoài ra, nhiều nhà quản lư chứng khoán tại Uỷ ban hối đoái và chứng khoán Mỹ (SEC) cũng đề nghị các công ty cung cấp dịch vụ này phải xem xét kỹ các điều kiện tâm lư, tài chính của khách hàng trước khi cho phép họ mở tại khoản để gia nhập hàng ngũ các nhà đầu tư tự do trên mạng.

 

Lo ngại trước sự bùng nổ không thể kiểm soát được đối với hoạt động đầu tư “mua đứt bán đoạn” qua Internet của các nhà đầu tư độc lập thuộc mọi thành phần, Hiệp hội quốc gia các nhà mua bán chứng khoán Mỹ (NASD) đă yêu cầu các công ty cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán trên Internet cho các nhà đầu tư độc lập phải công bố rơ về mọi rủi ro của việc tự đầu tư này để mọi người được biết. Ngoài ra, nhiều nhà quản lư chứng khoán tại Uỷ ban hối đoái và chứng khoán Mỹ (SEC) cũng đề nghị các công ty cung cấp dịch vụ này phải xem xét kỹ các điều kiện tâm lư, tài chính của khách hàng trước khi cho phép họ mở tại khoản để gia nhập hàng ngũ các nhà đầu tư tự do trên mạng.

 

C̣n về phía các nhà đầu tư tự do trên Internet, ngoài việc xác định được công ty tiềm năng, sự kiên tŕ cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của công việc đầu tư­. Khi đầu tư qua Internet, các nhà đầu tư cũng cần tập trung đầu tư vào cổ phiếu của các công ty có t́nh h́nh tài chính minh bạch, có lợi nhuận cao đồng thời kiên tŕ nắm giữ dài hạn, chứ đừng theo xu hướng chung là “mua đứt bán đoạn”. Một công ty tốt sẽ tiếp tục tăng trưởng ngay cả khi thị trường chứng khoán có hoảng loạn. Các nhà đầu tư chứng khoán không nên quá để ư đến biến động giá hàng ngày trên thị trường cũng như những đặc điểm của việc đầu tư qua Internet mà nên tập trung t́m hiểu về các công ty niêm yết để xác định được đâu là công ty tốt và đáng để nắm giữ lâu dài.

 

C̣n về phía các nhà đầu tư tự do trên Internet, ngoài việc xác định được công ty tiềm năng, sự kiên tŕ cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của công việc đầu tư­. Khi đầu tư qua Internet, các nhà đầu tư cũng cần tập trung đầu tư vào cổ phiếu của các công ty có t́nh h́nh tài chính minh bạch, có lợi nhuận cao đồng thời kiên tŕ nắm giữ dài hạn, chứ đừng theo xu hướng chung là “mua đứt bán đoạn”. Một công ty tốt sẽ tiếp tục tăng trưởng ngay cả khi thị trường chứng khoán có hoảng loạn. Các nhà đầu tư chứng khoán không nên quá để ư đến biến động giá hàng ngày trên thị trường cũng như những đặc điểm của việc đầu tư qua Internet mà nên tập trung t́m hiểu về các công ty niêm yết để xác định được đâu là công ty tốt và đáng để nắm giữ lâu dài.

 

Bên cạnh đó, khi giao dịch chứng khoán trên mạng Internet, các nhà đầu tư nên theo dơi t́nh h́nh tài khoản giao dịch mỗi ngày chứ không phải là mỗi phút, bởi như thế nhà đầu tư sẽ tránh được tác động từ những biến động liên tục trên thị trường đem lại. Nhiều trang web và công ty môi giới chứng khoán trên mạng Internet cho phép nhà đầu tư theo dơi t́nh h́nh giao dịch của ḿnh. Thậm chí một số công ty c̣n gửi e-mail hàng đêm thông báo cho nhà đầu tư kết quả giao dịch chứng khoán trong ngày. Cần phải nhớ rằng cẩm nang này chỉ thực sự có hiệu quả khi bạn nắm rơ các cổ phiếu ḿnh đầu tư cũng như chiến thuật đầu tư định sử dụng. Muốn thành công các nhà đầu tư phải liên tục thực hành đầu tư thử một số loại cổ phiếu để rèn luyện các kỹ năng đầu tư và sự tự tin trước khi thực sự đầu tư vào thị trường chứng khoán qua mạng Internet.

 

Bên cạnh đó, khi giao dịch chứng khoán trên mạng Internet, các nhà đầu tư nên theo dơi t́nh h́nh tài khoản giao dịch mỗi ngày chứ không phải là mỗi phút, bởi như thế nhà đầu tư sẽ tránh được tác động từ những biến động liên tục trên thị trường đem lại. Nhiều trang web và công ty môi giới chứng khoán trên mạng Internet cho phép nhà đầu tư theo dơi t́nh h́nh giao dịch của ḿnh. Thậm chí một số công ty c̣n gửi e-mail hàng đêm thông báo cho nhà đầu tư kết quả giao dịch chứng khoán trong ngày. Cần phải nhớ rằng cẩm nang này chỉ thực sự có hiệu quả khi bạn nắm rơ các cổ phiếu ḿnh đầu tư cũng như chiến thuật đầu tư định sử dụng. Muốn thành công các nhà đầu tư phải liên tục thực hành đầu tư thử một số loại cổ phiếu để rèn luyện các kỹ năng đầu tư và sự tự tin trước khi thực sự đầu tư vào thị trường chứng khoán qua mạng Internet.

 

Trường hợp bạn lựa chọn đầu tư vào quyền lựa chọn cổ phiếu (options) th́ một trang chủ về định giá, biến động của các options là không thể bỏ qua được. Một trang web khá nổi tiếng đó là www.optionetics.com. Trang này cung cấp cho bạn các phân tích thị trường trong ngày cũng như phân tích toàn bộ thị trường vào cuối ngày, cập nhật các bài báo mỗi ngày về giao dịch, đầu tư cổ phiếu và hợp đồng lựa chọn. Trang web này c̣n có những dữ liệu thị trường được cập nhật liên tục và danh sách liệt kê những người thành công, thất bại trong đầu tư chứng khoán trên mạng cũng như giá cao nhất, thấp nhất trong ngày.

 

Trường hợp bạn lựa chọn đầu tư vào quyền lựa chọn cổ phiếu (options) th́ một trang chủ về định giá, biến động của các options là không thể bỏ qua được. Một trang web khá nổi tiếng đó là www.optionetics.com. Trang này cung cấp cho bạn các phân tích thị trường trong ngày cũng như phân tích toàn bộ thị trường vào cuối ngày, cập nhật các bài báo mỗi ngày về giao dịch, đầu tư cổ phiếu và hợp đồng lựa chọn. Trang web này c̣n có những dữ liệu thị trường được cập nhật liên tục và danh sách liệt kê những người thành công, thất bại trong đầu tư chứng khoán trên mạng cũng như giá cao nhất, thấp nhất trong ngày.

 

Mặc dù vậy, hoàn toàn không sai khi các chuyên gia phân tích chứng khoán nhận định rằng sẽ rất nguy hại nếu các nhà đầu tư tự do trên Internet quên rằng thị trường chứng khoán không phải là nơi tiêu tiền nhanh và vô bổ nhất cũng như không phải là nơi kiếm tiền dễ dàng và nhàn nhă nhất, cho dù đó có là phương thức đầu tư tiện dụng qua Internet. Và chỉ có những nhà đầu tư tỉnh táo và biết kiềm chế mới tránh được sự hối tiếc nếu một ngày kia giá cổ phiếu tăng trở lại.

 

 

 

Đừng quên tiếp cận thông tin trong đầu tư chứng khoán

Rất nhiều nhà đầu tư khi đă quyết định mua cổ phiếu của một công ty cổ phần rồi, vẫn c̣n chưa biết rơ về công ty đó. Một số c̣n tệ hơn nữa là chỉ mới nghe nói tới là công ty đó nghe đồn là tốt, mà không có một nỗ lực nào để t́m hiểu cho biết đích xác. Có nhiều nhà đầu tư c̣n nói là không có cách nào để tiếp cận lấy được thông tin của công ty đó, và có mà không hiểu ǵ cả.

 

Nhà đầu tư nào cũng mong muốn kế hoạch đầu tư của ḿnh được thành công, đem lại lợi nhuận cao. Để thực hiện điều đó đ̣i hỏi các nhà đầu tư khả năng đánh giá và phân tích.

 

Rất nhiều nhà đầu tư khi đă quyết định mua cổ phiếu của một công ty cổ phần rồi, vẫn c̣n chưa biết rơ về công ty đó. Một số c̣n tệ hơn nữa là chỉ mới nghe nói tới là công ty đó nghe đồn là tốt, mà không có một nỗ lực nào để t́m hiểu cho biết đích xác. Có nhiều nhà đầu tư c̣n nói là không có cách nào để tiếp cận lấy được thông tin của công ty đó, và có mà không hiểu ǵ cả. Nếu vậy chỉ có một lời khuyên duy nhất là bạn nên nhờ một công ty tư vấn nào có uy tín để giúp nhà đầu tư và giải thích cặn kẽ cho họ về công ty bạn dự định đầu tư. C̣n nếu nhà đầu tư là người muốn t́m hiểu kỹ về một công ty cổ phần trước khi đầu tư th́ cần phải t́m hiểu công ty đó qua các lĩnh vực sau đây:

 

1. Doanh thu của công ty có tăng không: Nếu tăng th́ tăng theo mức độ nào. Doanh số này sẽ căn cứ vào hoạt động chính của công ty, chứ không thể căn cứ vào các hoạt động phụ như đầu tư tài chính hay địa ốc của công ty .

 

2. Lợi nhuận trước thuế và sau thuế: Lợi nhuận này bắt buộc tăng theo doanh số của công ty. Nếu doanh số tăng mà lợi nhuận không tăng! Hăy coi chừng v́ chi phí của công ty quá nhiều, nên lợi nhuận không thể tăng được. Đây là dấu hiệu xấu cho công ty cổ phần. Như vậy bạn cần phải xét tới lợi nhuận biên (profit margin) của chính công ty đó, trước khi có quyết định đầu tư.

 

3. Sản phẩm và thị phần của công ty đó: Đầu tư vào một công ty có nghĩa là đóng góp tiền vào một công ty đó để sản xuất hay cung cấp dịch vụ, bạn cần phải hiểu rơ về sản phẩm này hiện nay có phải thế mạnh của công ty không? Và sản phẩm này đă chiếm được bao nhiêu thị phần trên thị trường. Thông thường bạn nên chọn những công ty hàng đầu của một lĩnh vực sản xuất nào đó. Bởi v́ công ty hàng đầu có lợi thế về kinh doanh hơn nhiều so với các công ty đứng hàng thứ hai thứ ba… Như vậy yếu tố thị phần cần được chú ư.

 

4. Chiến lược kinh doanh của công ty: trong hiện tại và tương lai. Theo mức đánh giá của bạn th́ chiến lược này có khả thi không? Một khi chiến lược công ty sai sẽ làm cho công ty bị thua lỗ, và bạn sẽ là nạn nhân của công ty khi giá cổ phiếu đi xuống.

 

5. Thành phần Hội Đồng Quản Trị và Ban Giám Đốc công ty có thực sự giỏi hay không? Nếu không th́ bạn đă đưa tiền để đầu tư nhầm công ty rồi đó!

 

6. P/E: Tỷ lệ giá thị trường/tiền lời công ty có quá cao không? Nếu tỷ lệ này cao th́ rủi ro cho bạn càng nhiều. Cần phải chú ư, tỷ lệ thấp th́ tốt hơn

 

7. Mức trả cổ tức của công ty như thế nào: Bạn cần hoạch định lại chiến lược của bạn, mua cổ phiếu để nhận cổ tức hay mua cổ phiếu để kiếm chênh lệch giá?

 

8. Các công ty đối thủ đối với công ty bạn định đầu tư như thế nào? Mạnh hơn? Yếu hơn? Giỏi hơn? Sản phẩm tốt hơn và giá bán rẻ hơn? Bạn cần phải áp dụng đúng câu nói trong b́nh pháp Tôn Tử “ Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.

 

9. Số lượng cổ phiếu của công ty bạn đầu tư nhiều hay ít? Nếu ít sẽ lợi và hại về điểm nào? Nếu công ty có nhiều cổ phiếu th́ lợi và hại ở điểm nào?

 

10. Cuối cùng là thành phần cổ đông của công ty mà bạn muốn đầu tư là ai? Các nhà đầu tư tài chính? Các nhà đầu tư có tổ chức? Các nhà đầu tư nhỏ? Công ty giữ một số lớn cổ phiếu.

 

Những yếu tố này rất quan trọng cho giá thị trường của cổ phiếu. Một nguyên tắc là nếu cổ đông là pháp nhân giàu có đầu tư vào công ty đó th́ sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới giá cổ phiếu, hơn là những nhà đầu tư lẻ tẻ, ít tiền.

 

 

Thị trường chứng khoán: Giá trị của thông tin

 

Thị trường chứng khoán sôi động là nhờ có thông tin. Nhưng cũng nên xem lại có những loại thông tin nào và đă được sử dụng như thế nào?

 

Chỉ trong ṿng chưa đầy một năm, số tài khoản đăng kư tại các công ty chứng khoán đă tăng gấp đôi, từ khoảng 30.000 lên 60.000 tài khoản với hơn 13 triệu cổ phiếu các loại. Ước tính có hơn 90% số tài khoản là của các cá nhân. Thị trường rất sôi động.

 

Ai có đủ thông tin?

 

Nhà vật lư lượng tử nổi tiếng người Đan Mạch, Niels Bohr, đă đóng góp một luận điểm lư thú về thị trường chứng khoán:

 

Trong số những người chơi chứng khoán, nhóm thứ nhất là những người hoàn toàn không có thông tin, chỉ “nhắm mắt” mua bán. Theo lư thuyết xác suất ngẫu nhiên, b́nh quân lăi hoặc lỗ của nhóm này đúng bằng của b́nh quân thị trường.

 

Nhóm thứ hai là những người có thông tin riêng từ bên trong (c̣n gọi là thông tin nội gián), họ sẽ thu được siêu lợi nhuận. Nhưng nếu nhóm thứ nhất lăi hoặc lỗ theo b́nh quân thị trường, th́ khoản siêu lợi nhuận này có từ đâu?

 

Đó chính là khoản lỗ của nhóm thứ ba, những người có thông tin nhưng không đầy đủ.

 

Kết luận của Niels Bohr là: khi không chắc ḿnh thuộc nhóm thứ hai th́ thà ở nhóm thứ nhất c̣n hơn. Nhưng trên thực tế, ít ai chịu chấp nhận điều đó.

 

Có lẽ trên thị trường Việt Nam khá nhiều người thuộc nhóm thứ ba mà vẫn đinh ninh tin là ḿnh đang ở nhóm thứ hai. C̣n những người thực sự thuộc nhóm thứ hai? Ít người biết đến họ. Không lớn tiếng b́nh luận, họ lặng lẽ thu lợi từ những biến động mà họ đă biết trước, thậm chí do chính họ tạo ra.

 

Mỗi người xử lư thông tin theo cách riêng

 

Có thể tạm phân loại các nhà đầu tư (hay người chơi) theo các thể loại như sau:

 

Thứ nhất, đó là những nhà đầu tư phân tích rất kỹ mọi thông tin về công ty phát hành cổ phiếu, về công nghệ, về thị trường đầu vào và đầu ra, về các đối thủ cạnh tranh. Họ quyết định đầu tư theo thực chất của công ty. Đây là những nhà đầu tư biết bỏ tiền vào những công ty có triển vọng tốt, v́ vậy họ giúp cho nền kinh tế phát triển tốt hơn.

 

Loại thứ hai, nghiên cứu rất kỹ thông tin của chứng khoán để thấy giá b́nh quân trong một thời gian dài. Khi giá tăng lên trên b́nh quân, họ tin là giá sẽ xuống, nên họ bán ra. Nhờ có nhiều người bán ra nên giá xuống. Ngược lại, khi giá xuống dưới mức b́nh quân, họ tin là giá sẽ lên, vậy là họ đi mua vào. Nhờ hành động mua vào mà giá lên. Như vậy, nhóm này góp phần làm ổn định thị trường.

 

Loại thứ ba lại có tâm lư ngược lại. Khi thấy giá một cổ phiếu lên, họ giả định là ngày mai sẽ lên nữa. Họ đổ xô đi mua. V́ họ đi mua mà giá càng lên. Một khi giá xuống, họ lại giả định ngày mai sẽ xuống nữa, vậy là vội vàng đi bán. V́ nhiều người bán mà giá đă xuống lại càng xuống. Nhóm thứ ba này thúc đẩy sự bất ổn định của thị trường.

 

Loại thứ tư là những người đầu tư theo b́nh quân thị trường. Họ mua một tập hợp rất nhiều loại chứng khoán khác nhau, tin là có thứ này xuống th́ có thứ khác lên. Vị thế của họ tùy thuộc vào biến động của chung thị trường mà ít phụ thuộc vào một vài cổ phiếu cụ thể nào.

 

Loại thứ năm là những nhà đầu tư tập trung mua cổ phiếu của một công ty nhằm đến khi có thể đạt một phần kiểm soát công ty đó. Họ gần như “chung thủy” dài hạn với công ty đó và ít quan tâm đến những biến động nhất thời theo tâm lư thị trường.

 

Loại thứ sáu là những nhà đầu cơ rất ngắn hạn. Họ mua vào bán ra liên tục hàng ngày theo tin đồn nhanh, có khi sáng mua trưa bán. Thị trường gọi nhóm này là “gây nhiễu”.

 

Tất nhiên không phải ai cũng kiên định theo một cách hành xử đă chọn. Và ranh giới giữa các loại trên không phải bao giờ cũng rơ ràng. Nhưng nếu quan sát thị trường thời gian qua, có thể thấy không ít người thuộc loại thứ ba và loại thứ sáu.

 

Có nhiều loại thông tin

 

Có những lời tư vấn của những tổ chức chuyên môn, họ kinh doanh bằng cách đưa ra những lời tư vấn. Tuy nhiên, họ lại rất dè dặt trong những t́nh huống nhạy cảm. Thông thường họ không đưa ra những khẳng định chắc chắn v́ phải lo cho uy tín của ḿnh.

 

Có những thông tin của các công ty phát hành ra chứng khoán. Theo luật, những thông tin này phải được qua kiểm toán nên độ tin cậy khá tốt. Tuy nhiên, khi mà thị trường đang sốt th́ ít ai để ư nhiều đến những thông tin này. Mà khả năng hiểu hết được những thông tin này không phải ai cũng có.

 

Có những thông tin của những cơ quan quản lư có nhiệm vụ chăm lo sự phát triển ổn định của thị trường. Ngày 31/3 và 3/4/2006, Ủy ban Chứng khoán đă có hai văn bản, gửi các trung tâm giao dịch chứng khoán và gửi Ngân hàng Nhà nước. Cả hai đều nhắc nhở về những rủi ro tiềm ẩn của thị trường và khuyến nghị các nhà đầu tư thận trọng.

 

Có những tin đồn trên thị trường mà chẳng biết từ đâu ra. Tất nhiên, những người tung ra tin này chẳng phải chịu trách nhiệm. Cũng chẳng loại trừ những tin đồn đưa ra với chủ đích đẩy giá lên hay kéo giá xuống.

 

Cuối cùng là những thông tin từ báo chí. Đó là những thông tin có địa chỉ xác thực của những người phải chịu trách nhiệm trước luật pháp về nội dung đăng tải. Hoặc báo chí đưa ra những thông tin có nguồn gốc rơ ràng. Hoặc báo chí đưa ra những lời cảnh báo cho những người chơi mà không biết thông tin.